Trận đánh Arbela, năm 331 tr.CN: Sự sụp đổ của đế quốc Ba Tư (P.1)

0
917

Thời cổ đại, Hi Lạp là trung tâm của nền văn minh Phương Tây. Khi ấy sự đe dọa lớn nhất của Hi Lạp đến từ đế quốc Ba Tư hùng mạnh. Trận đánh Arbela, năm 331 tr.CN, Alexander Đại đế đã giải quyết mối nguy này cho Hi Lạp trong cuộc chinh phạt vĩ đại của mình

Quân đội Ba Tư

Người Hi Lạp đều biết đế quốc Ba Tư lớn mạnh nhưng từ trước đến nay chưa bao giờ điều này được thể hiện rõ như vậy. Đội quân của Darius III không phải có một triệu lính hùng mạnh như một số học giả thời cổ đại đã khẳng định. Đó là con số phi lí. Tuy nhiên, số quân của Darius III lớn hơn rất nhiều so với 40 000 bộ binh và 7000 kỵ kinh trong quân đội của Alexander. Người Hi Lạp thấy hàng quân Ba Tư dài đến mức có thể dễ dàng bao vây cả hai bên sườn của họ. Cả hai cánh của quân Ba Tư đều được các kỵ kinh nắm giữ. Bao gồm: kỵ kinh được trang bị vũ khí hạng nặng, cả người và ngựa đều mặc áo giáp. Số còn lại là kỵ kinh được trang bị vũ khí hạng nhẹ (họ là những cung thủ cưỡi ngựa đáng sợ trên thảo nguyên). Ở giữa hai cánh kỵ kinh là hai hàng bộ binh. Trung tâm của hàng đầu tiên là lính đánh thuê Hi Lạp được trang bị vũ khí hạng nặng, trấn giữ bên sườn là đội cận vệ hoàng gia Ba Tư – những người lính thiện chiến nhất của Darius Đại đế. Và Darius đứng ở chính giữa đội cận vệ hoàng gia.

Hình ảnh quân đội Ba Tư
Hình ảnh quân đội Ba Tư (Ảnh: Danviet)

Phía trước và trung tâm của quân đội Ba Tư là 15 con voi, những con vật mà người Macedo chưa nhìn thấy trước đó bao giờ. Ở mỗi bên đàn voi là 100 xe ngựa gắn lưỡi hái trên bánh xe. Có vẻ như Darius tập trung nhiều vào những chiếc xe ngựa. Ông đã san bằng cánh đồng phía trước đội quân để xe ngựa có thể hoạt động hiệu quả. Đó là điểm đặc trưng của Darius – ngu dốt về chiến lược. Cánh đồng được san bằng giữ chặt đội quân của ông đứng tại chỗ một cách cứng nhắc còn hơn cả việc ông nhốt họ trong một pháo đài. Đội quân không những không di chuyển được mà họ còn không thể đổi hướng nếu Darius sử dụng xe ngựa. Darius không thấy được nhược điểm này nhưng đối thủ của ông thì biết rõ.

Alexander Đại đế

Alexander Đại đế
Một bức họa của Alexander Đại đế (Ảnh: dkn.tv)

Vị vua trẻ của Macedon (kinh đô cổ của Hi Lạp) có nhiều khuyết điểm: Ông là người tàn nhẫn, có thể thực hiện những hành động cực kì tàn ác và rất tự mãn. Tuy nhiên ông không hề ngu dốt – đặc biệt là về chiến lược. Alexander đã do thám vị trí của quân Ba Tư, nắm được chi tiết trật tự bố trí các đơn vị trong đội quân của họ và ông để họ chờ đợi. Darius đã chờ đợi ở cánh đồng được san bằng nhiều ngày cho đến khi Alexander quyết định tiến công.

Trước đó, Alexander đã đánh bại người Ba Tư hai lần. Lần thứ nhất, Alexander chỉ huy kỵ kinh được trang bị vũ khí hạng nặng vượt qua sông Granicus và đánh đuổi 20 000 kỵ kinh Ba Tư được trang bị vũ khí hạng nhẹ. Sau đó, đội quân còn lại của ông đã đánh bại 20 000 lính bộ binh đánh thuê Hi Lạp dưới quyền Memnon xứ Rhodes. Alexander đã phóng thích tù binh Ba Tư và tàn sát lính Hi Lạp mà ông gọi là những kẻ phản bội.

Quan điểm tất cả người Hi Lạp nên đoàn kết trong chiến dịch chống lại Đế chế Ba Tư là điều mà Alexander kế thừa từ người cha – vua Philip II của Macedon. Vua Philip hoàn toàn đồng tình với niềm tin truyền thống rằng có hai loại người: người Hi Lạp và “người man rợ”. Ông có lý do thiết thực để khuyến khích niềm tin này: người Hi Lạp chỉ liên kết khi đối mặt với một kẻ thù chung và ông muốn người Hi Lạp đoàn kết dưới trướng mình. Quan điểm từ xưa và văn hóa của các thành bang Hi Lạp do vị vua Macedonia chỉ đạo đã thu hút nhiều người Hi Lạp. Người Macedonia là những người Hi Lạp ở vùng núi xa, tuy lạc hậu nhưng họ vẫn có vua. Philip đã đạt được mục tiêu bằng cách phát triển đội quân vượt trội hơn bất cứ lực lượng nào ở Hi Lạp. Sau khi đánh bại các thành bang Hi Lạp, ông đã thành lập một liên minh bao gồm tất cả các thành bang trên đất liền ngoại trừ Sparta – một thành bang mà ông coi khinh.

Vị vua người Macedonia đã không thể tiến xa hơn được nữa bởi vì ông đã bị ám sát. Cuộc nổi loạn bùng nổ ở Hi Lạp nhưng nó đã bị Alexander nhanh chóng dập tắt. Alexander đã chứng tỏ ông có thể điều hành tổ chức mà cha ông đã sáng lập ra.

Cơ sở tổ chức quân sự Macedonia là một kiểu đội hình phalanx mới. Những người lính Macedonia trong đội hình phalanx đội mũ và đeo xà cạp bằng kim loại nhưng không mặc áo giáp bằng đồng. Họ dùng cây giáo dài 5,4m gọi là sarissas thay cho cây giáo dài 2,4m của Hi Lạp. Họ sử dụng tấm khiên nhỏ hơn các tấm khiên khổng lồ với bề mặt bằng đồng của bộ binh hạng nặng và dùng những thanh gươm dài hơn. Họ có thể di chuyển nhanh hơn những người lính trong đội hình phalanx Hi Lạp và có thể chuyển động linh hoạt trong đội hình nhỏ cũng như trong đội hình lớn.

Vua Philip sử dụng đội hình phalanx này để buộc quân thù ở tại chỗ, ông dùng những kỵ kinh được trang bị vũ khí hạng nặng để đánh bại chúng. Những  kỵ kinh hạng nặng thiện chiến nhất (Lính cận vệ của nhà vua) được trang bị mũ sắt, áo giáp, khiên, gươm và giáo. Người Macedonia không giống như phần lớn người Hi Lạp, họ là những người giỏi cưỡi ngựa. Thời đó, không có kỵ kinh nào trên thế giới có bàn đạp ở yên ngựa. Chỉ có người được huấn luyện từ nhỏ mới có thể vừa ngồi trên ngựa vừa tiến công bằng một cây giáo. Để theo sát và phá rối quân thù, Philip có kỵ kinh hạng nhẹ được trang bị cung tên hoặc lao và gươm. Sau này, Alexander đã thêm vào một đội kỵ kinh hạng nặng siêu việt, gọi là Sarissophoroi, sử dụng giáo dài của bộ binh.

 Philip đã sáng tạo một kiểu lính mới là “hypaspists” để tạo ra liên kết giữa kỵ kinh hạng nặng và đội hình phalanx. Những “hypaspists” đội mũ sắt và cầm khiên nặng hơn khiên của binh lính trong đội hình phalanx Macedonia, nhưng lại nhẹ hơn khiên của những bộ binh hạng nặng. Giáo của họ tương tự như giáo của bộ binh hạng nặng trước đó. Họ di chuyển linh hoạt hơn những người lính trong đội hình phalanx và có thể chiến đấu cả trong đội hình phalanx và đội hình mở rộng.

Đế chế của Alexander đại đế
Đế chế của Alexander đại đế (Anhr: wikipedia.org)

Bộ binh linh hoạt nhất của Philip là các cung thủ, lính ném đá, ném lao – những người mặc áo giáp ngắn. Để chiến đấu trên tầm xa và bao vây quân thù, ông dùng máy bắn tên và máy bắn đá. Những thứ này được các thành bang Hi Lạp sử dụng ở Sicily và Italy nhưng ít khi được sử dụng trên bán đảo Hi Lạp. Các kĩ sư của Philip đã sáng tạo ra một loại pháo mới và mạnh hơn nhiều: sử dụng các sợi dây thừng nhỏ được bện lại thay vì cung để bắn đạn.

Tổ chức quân đội của Macedonia phức tạp hơn nhiều so với đội hình phalanx cũ của Hi Lạp. Họ cũng được huấn luyện tốt hơn. Philip đã có đội quân thường trực đầu tiên trên thế giới, được tuyển mộ theo nghĩa vụ quân sự.

Sau khi đánh tan các thành bang nổi loạn vì cái chết của cha,  Alexander san bằng thành Thebes và tàn sát 6000 người Thebes, ông tuyển mộ thêm lính từ các bang khác của Hi Lạp để chuẩn bị cho cuộc viễn chinh Ba Tư. Trận Granicus chỉ là một cuộc diễn tập cho quân đội của ông. Quân của ông đông hơn lực lượng của Đế chế Ba Tư và Memnon của xứ Rhodes đã ngốc nghếch khi cố gắng giữ vùng bờ sông Granicus bằng kỵ kinh thay vì bộ binh trang bị vũ khí hạng nặng. Sau khi kiểm soát được Tiểu Á, Alexander đã hành quân xuống bờ biển Địa Trung Hải để chiếm các căn cứ hải quân của Ba Tư. Ông muốn đảm bảo được hậu phương của mình trước khi truy kích quân Ba Tư.

Lần này, Darius xuất hiện tại Issus với một đội quân lớn ở phía sau quân của Alexander. Alexander đã dùng mưu dụ quân Ba Tư vào một chỗ chật hẹp – nơi quân số của họ không phát huy được hiệu quả và chỉ huy quân cận vệ của ông tiến công dồn dập hoàng đế Ba Tư. Darius bỏ chạy, bỏ cả vũ khí và gia đình ở lại.

Thay vì đuổi theo đám quân Ba Tư bại trận, Alexander đã hoàn thành việc chinh phục các thành bang ven biển và tiến đến Ai Cập, nơi ông được tung hô như một vị thần. Điều này thật ra không quan trọng với người Ai Cập vì tất cả các pharaông của họ đều là các vị thần. Nhưng với Alexander thì điều đó có vẻ như là một sự phát hiện. Ông khẳng định mình được Thượng đế lựa chọn để cai trị thế giới. Thầy của ông là Aristotle, đã dạy ông rằng có hai loại người: người Hi Lạp và người man rợ. Alexander không hiểu vì sao nếu ông cai trị cả người Hi Lạp và người man rợ thì nhóm người này lại tốt hơn nhóm khác. Ông khẳng định rằng tất cả mọi người đều là anh em và Thượng đế đã chọn ông để hòa giải sự khác biệt giữa họ. Ông đưa quân đến phương Đông là để hoàn thành sứ mệnh được giao.

Trong khi đó, Darius tuyển mộ một đội quân khác và hi vọng có thể chặn đứng Alexander nhờ dòng sông Tigris, ở phía bắc của thành Arbela. Trên đồng bằng mang tên Gau Gamela hay còn gọi là đồng cỏ lạc đà, Darius kéo quân đến và san phẳng cánh đồng này.

>>Xem tiếp P.2

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây