Trận Kadisiyah, năm 637: Chiến thắng quan trọng của người Hồi giáo

0
451

Trận Kadisiyah, năm 637 biến Hồi giáo từ một tôn giáo nhỏ thành tôn giáo phủ khắp vùng Trung Đông và ngày nay nó là một trong 3 tôn giáo lớn nhất thế giới.

Các bên tham chiến: người Ả Rập (Sa’ad ibn abu Wakkas và Kakaa ibn Amru) với người Ba Tư (Rustam).

Ảnh hưởng đến: việc mở rộng đạo Hồi vào những vùng đất không thuộc hệ ngôn ngữ Semitic và những vùng đất ngoại giáo – nếu người Hồi giáo chiến thắng, tín đồ Hồi giáo nguyên thủy có thể kiểm soát những dân tộc bị chế ngự. Quá trình này của họ đã dẫn đến sự căm ghét tôn giáo giữa những tín đồ Hồi giáo và những tín đồ Thiên chúa giáo trong 1.000 năm.

Những chiến binh Hôi giáo
Những chiến binh Hôi giáo (Ảnh: Monis Bukhari)

Hoàn cảnh

Những tín đồ Hồi giáo Ả Rập mới được cải đạo đã ra khỏi Ả Rập vào đầu thế kỷ thứ XVII, thế giới mà họ tuyên bố sẽ chinh phục không xa lạ với họ. Những người ở Palestine, Syria và Mesopotamia nói tiếng Ả Rập hoặc những ngôn ngữ tương tự như là Aramaic và Hebrew. Họ là “những người trong Kinh thánh” – người theo đạo Thiên Chúa hoặc người Do Thái. Họ tin vào một Chúa và họ tôn vinh những nhà tiên tri giống như tín đồ Hồi giáo. Nhiều người trong số họ nhìn lại có cùng một tổ tiên, là người Aramean (Abraham) du cư.

Mặc dù vậy, đi về hướng đông là một thế giới khác. Tất cả các dân tộc trong đế quốc Ba Tư, người Ba Tư, Parthia, Sakae và những dân tộc khác, nói những ngôn ngữ khác xa họ. Cả từ vựng lẫn ngữ pháp ngôn ngữ Ấn-Âu đó đều không giống những ngôn ngữ thuộc hệ Semitic của người Ả Rập. Những người Do Thái và Aramean bị cai trị bởi tộc trưởng, hay ở đế quốc La Mã, thì các tộc trưởng lại bị giám sát bởi những quan chức người La Mã. Người Ba Tư có một hệ thống chế độ phong kiến phức tạp với một đám những ông vua, quý tộc và những hiệp sĩ, tất cả bọn họ kiểm soát một số lãnh địa nhỏ và tất cả phải chịu trách nhiệm trực tiếp với một vị “vua của các vua”. Nhưng khác biệt lớn nhất là người Ba Tư không biết Chúa hay những nhà tiên tri của ngài. Họ thờ hai vị thần, đại diện cho cái thiện và cái ác. Vị thần thiện, là Ahura Mazda, hiện thân trong ánh sáng, mặt trời và lửa. Đối với tín đồ Hồi giáo Ả Rập, người Ba Tư là “tín đồ thờ lửa” và những kaffirs, người không theo đạo.

Đối với người Ba Tư, người Ả Rập là những người man rợ – những kẻ cướp và giặc, nhưng không có sức mạnh quân sự như người La Mã. Chiến tranh La Mã đã là một thảm họa (xem trận Thung lũng Yarmuk, năm 636). Những đội quân của Heraclius đã tràn vào đế quốc Ba Tư và đuổi theo vua Ba Tư, là Chosroes II ( gọi tắt của Chosroes the Conqueror) vào thủ đô của ông, Ctesiphon. Heraclius đề nghị dàn hòa nhưng Chosroes không chấp nhận. Điều đó quá tồi tệ cho những người dân của ông. Họ đã giết vua Ba Tư. Hòa bình mà họ chấp nhận đã tước đoạt của người Ba Tư tất cả đất đai xâm chiếm, những chiến lợi phẩm của Chosroes và bỏ lại những người Ba Tư kiệt quệ.

Những người La Mã kiệt quệ, nhưng người Ba Tư còn ở trong tình trạng tồi tệ hơn. Đế quốc Ba Tư luôn luôn ở bờ vực của tình trạng hỗn loạn do những nguyên tắc kế vị hay chính xác hơn là sự thiếu nguyên tắc về việc kế vị “vua của các vua”. Con trai của vua Ba Tư không tự động kế vị. Con trai của Chosroes chết vì bệnh dịch, và con trai của ông ta còn là một đứa bé, vì vậy, những vị vua nhỏ và những quý tộc lớn ngay lập tức bắt đầu một loạt những cuộc chiến tranh giành ngôi vị. Bốn năm sau, 12 quý tộc tuyên bố họ là vua và tất cả bị phế truất. Cuối cùng, người Ba Tư đã giải quyết ổn thỏa để một đứa trẻ lên ngôi, tên hiệu là Yezdigert III, với một vị quan nhiếp chính là Rustam.

Rustam đã chỉ huy một đội quân giống đội quân của người Parthia đánh bại Crassus ở Carrhae trong thời kỳ Rome là thủ đô của đế quốc La Mã (xem trận Cannae, năm 216 trước Công nguyên). Giống như đội quân của người Parthian, đó là một quân đội được phát triển từ đám cung thủ cưỡi ngựa của những bộ tộc du cư Âu-Á từ xưa, nhưng nó phức tạp hơn so với đội quân Parthia. Phần chính của đội quân là những quý tộc Ba Tư. Họ khao khát một khái niệm lý tưởng hóa những người lính của Cyrus Đại đế. Những binh lính của Cyrus tin rằng họ chỉ phải học cách cưỡi ngựa, bắn tên và nói sự thật. Quý tộc Ba Tư phải học nhiều hơn, nhưng chẳng có gì khiến anh ta giống một trí thức. Quý tộc Ba Tư chiến đấu trên lưng ngựa, đội mũ bảo hiểm và mặc áo giáp vảy sắt kéo dài từ cổ đến mắt cá chân. Anh ta phải học sử dụng cung tên, giáo, gươm, rìu, chùy và dao găm. Anh ta thậm chí phải học cách tuân lệnh. Những người không đủ khả năng mua nhiều áo giáp – những quý tộc nghèo và bất cứ ai không phải là những nô lệ hoặc nông nô – sẽ tập hợp thành kỵ binh hạng nhẹ (những cung thủ cưỡi ngựa). Trong một đội quân Ba Tư, bộ binh không có nhiều và cũng không chiếm vai trò quan trọng.

Rustam biết những bộ tộc trên sa mạc Ả Rập không ngồi yên và họ đã thực hiện một số cuộc tiến công vào những vùng đất định cư. Mặc dù vậy, ông không lo lắng khi biết tin những tín đồ của một số người điên trên sa mạc đang tập trung gần Hira – nước chư hầu của người Ả Rập.

Người dân của nhà tiên tri

Ả Rập là một vùng đất khắc nghiệt. Vùng đất này có ít nước và nông nghiệp chỉ có thể phát triển với việc tăng cường tưới tiêu. Thương mại với những đoàn lạc đà đi qua sa mạc và những con tàu trên Biển Đỏ, đã đem lại việc làm cho nhiều người. Một số tâm hồn thích phiêu lưu, những chàng thủy thủ Sindbad trong đời thực – đã đưa những con tàu qua Ấn Độ Dương, thậm chí đến Trung Quốc và trở về. Tuy nhiên, luôn có nhiều người hơn những gì đất đai có thể cung cấp cho họ. Trong nhiều thế kỷ, người Ả Rập đã di cư tới Ai Cập, Syria, và Mesopotamia. Những người khác, sống bên bờ vực của cái đói đã giết những bé gái sơ sinh của họ.

Mohammed
Mohammed (570 – 632) Ảnh: wikipedia

Ở thành phố thương mại phát triển phồn thịnh của Mecca, một chủ đoàn thương nhân đã lên án việc làm vô đạo đức mà ông nhìn thấy. Mohammed đã thuyết giáo lên án việc say rượu, tạp hôn, giết trẻ con và việc thờ cúng thần. Ông trở thành một mối phiền toái và bị đuổi khỏi Mecca. Mohammed chạy trốn sang Medina vào năm 622, ở Medina ông đã cải đạo người dân. Mohammed đã đưa ra những đức tính tốt cần thiết cho cuộc sống trên sa mạc, như là lòng hiếu khách và sự điều độ. Ông cấm uống rượu nhưng lại thỏa hiệp về vấn đề tình dục, ông giới hạn mỗi người đàn ông chỉ được có 4 bà vợ. Ông cực kỳ lên án việc giết hại trẻ em. Nếu những tín đồ của ông phải giết người thì họ nên giết những kẻ thù của Chúa. Vì vậy, ông đưa ra một giải pháp mới cho số dân quá đông của bán đảo Ả Rập.

Ngay sau đó, Mohammed đã tập hợp được một đội quân khá lớn những tín đồ. Ông khiến người Mecca từ bỏ việc thờ thần và liên hiệp các bộ tộc Ả Rập. Thậm chí trước khi tín đồ Hồi giáo chiếm Mecca, họ đã đột kích vào những vùng đất của người La Mã và người Ba Tư. Mohammed qua đời, tuy nhiên, trước khi mất ông đã sắp đặt một chiến dịch lớn bên ngoài Ả Rập. Chiến dịch của người Hồi giáo đã sản sinh ra hai viên tướng xuất sắc: Khalid ibn al Walid và Amr ibn al As. Cả hai đều biết lực lượng được trang bị vũ khí hạng nhẹ của họ không thể chống chọi được đội quân La Mã và Ba Tư trong cuộc chiến ác liệt với những binh lính đế quốc thích tiền lương. Họ đã phát triển chiến lược và những chiến thuật dựa vào điểm mạnh của người Ả Rập, đó là những cuộc đột kích tiến công và chạy trốn. Vào năm 636 (xem trận Thung lũng Yarmuk, năm 636) Khalid tập trung những đội quân Ả Rập và đánh tan tác một đội quân La Mã trong cuộc chiến Yarmuk.

Kadisiyah

Miêu tả về trận chiến Kadisiyah từ một bản thảo của sử thi Ba Tư Shahnameh (Ảnh: wikipedia)

Một tù trưởng bộ tộc Ả Rập du cư tên là Muthanna đã đề xuất với Khalid rằng, những đội quân Hồi giáo nên tham gia cùng với thị tộc ngoại giáo của ông ta, là Bakr, trong một cuộc đột kích vào Hira. Khalid đồng ý và hai đội quân đã đột kích Hira trong năm 633. Điều đó làm Rustam khó chịu, ông đã tập hợp quân đội Ba Tư để dạy cho người Ả Rập một bài học. Muthanna thỉnh cầu Omar – người kế vị Mohammed đứng đầu đạo Hồi, gợi ý Omar chấp nhận tôn giáo mới. Quốc vương Hồi giáo Omar, đang dốc sức cho một trận quyết đấu với người La Mã, đã cử một số người tới giúp đỡ nhưng không nhiều. Trong cuộc chiến được biết đến với tên Trận chiến trên cầu, Rustam đã đưa ra một vũ khí mới với những người Ả Rập: những con voi. Ngựa của người Ả Rập hoảng sợ và những người Ả Rập đã bị đánh bại thảm hại. Rustam quyết định ông sẽ chú ý vấn đề người Ả Rập.

Tuy nhiên, hai năm sau đó, đội quân Ả Rập dưới sự chỉ huy của Khalid đã tiêu diệt một đội quân La Mã trong cuộc đụng độ trên Yarmuk và hiện giờ những người Hồi giáo đã chiếm giữ Palestine và Syria. Rustam một lần nữa huy động đội quân của ông.

Omar thấy người Ba Tư đang đe dọa giao thông giữa Syria và Ả Rập. Việc chinh phục đế quốc trải dài của những người thờ lửa không phải là một việc ưu tiên của Omar, nhưng ông phải làm một điều gì đó. Ông bắt đầu tập trung những đội quân người Ả Rập và trao quyền chỉ huy đội quân cho Sa’ad ibn abu Wakkas – một người bạn cũ của nhà Tiên tri. Ông cử những sứ giả tới chỗ vua Yezdigert yêu cầu nhà vua chuyển sang đạo Hồi hoặc trả thuế cho những người không theo đạo tính theo đầu người. Yezdigert giờ đã là một thiếu niên, nói rằng nếu những người Hồi giáo muốn đất của anh thì anh sẽ đưa cho họ đất của anh. Anh cho mỗi sứ giả một túi đất, cho họ về quê nhà và nói rằng nếu họ không phải là những sứ giả thì anh đã chặt đầu họ.

Những người Ả Rập vượt qua Euphrates và Rustam đã hành quân tới gặp họ. Người Ba Tư có một đội quân lớn hơn và Sa’ad không vội vàng chiến đấu. Nhưng những kẻ cướp người Ả Rập đã đụng phải kỵ binh Ba Tư, vì vậy không thể tránh khỏi cuộc chiến. Người Ba Tư bắt đầu trận chiến theo cách thông thường của họ, với những hiệp sĩ Ba Tư tiến ra giữa những đội quân và thách thức các nhà vô địch phía bên kia. Những người Ả Rập chấp nhận một cách háo hức, nhưng người Ba Tư được trang bị vũ khí tốt hơn thường chiếm ưu thế hơn trong trận quyết đấu tay đôi. Dần dần, cuộc chiến trở thành một trận chiến Ả Rập điển hình. Những nhóm nhỏ người Ả Rập cưỡi ngựa tiến đến những phần trong hàng ngũ quân Ba Tư, bắn những mũi tên của họ và cưỡi ngựa chạy đi. Những người Ả Rập rút lui phân tán theo mọi hướng và họ không bị trĩu nặng bởi áo giáp sắt nên đi nhanh hơn so với kỵ binh Ba Tư. Nản chí bởi không thể tiến gần tới quân Ả Rập, Rustam đưa những con voi vào trận. Một lần nữa, ngựa của người Ả Rập lại hoảng sợ. Tuy những bộ binh bắn cung người Ả Rập đã bắn hạ những quản tượng và giết một số con voi, nhưng đội quân người Ả Rập vẫn bị đẩy lùi trong sự rối loạn và chỉ được cứu khi màn đêm xuống.

Ngày hôm sau, mọi việc lặp lại ngày đầu tiên, trừ những con voi. Rustam miễn cưỡng sử dụng những con voi để chống lại bất cứ đối thủ dai dẳng nào. Khi hoảng sợ, những động vật lớn lại nguy hiểm cho quân Ba Tư hơn là quân địch. Như ở Yarmuk, những người Ả Rập đã chiến đấu với những kẻ thù của họ cho đến hơi thở cuối cùng. Lực lượng tiếp viện đang đến từ Syria, nhưng ngày hôm sau Sa’ad quá nóng ruột không thể ngồi trên lưng ngựa. Ông giao cho Kakaa ibn Amru – thủ lĩnh của người Syria – chỉ huy đội quân.

Chiến binh Ba Tư
Những chiến binh Ba Tư thời Trung cổ (Ảnh: Danviet)

Chiến đấu với người Ả Rập, Rustam thấy khó như đuổi hình bắt bóng. Họ không bao giờ đứng yên, ngựa của họ chạy nhanh hơn và họ không có trại để phá hủy. Rustam đưa thêm nhiều voi vào trận chiến. Tuy nhiên, bây giờ ông không chỉ đương đầu với những binh lính thiếu kinh nghiệm của bộ lạc trên sa mạc. Binh lính tiếp viện Syria đã chiến đấu trong những đội quân của người La Mã vì vậy họ biết cách xử lý những con voi. Ngựa của họ được huấn luyện không sợ hãi. Họ tiến tới những con voi và bắn người dắt chúng cùng với những binh lính trên lưng con thú. Bộ binh của họ tiến công con thú to lớn với giáo, mũi tên và gươm. Những con voi bị đánh tan tác. Chúng  chạy tán loạn đã tạo ra những khoảng trống trong phòng tuyến của quân Ba Tư và Kakaa cử những binh lính tiến công qua những chỗ trống. Người Ba Tư bỏ chạy và những người Ả Rập tiến công theo những nhóm nhỏ như một đàn ong.

Vào lúc rạng đông, một cơn bão cát bắt đầu. Gió thổi vào mặt người Ba Tư, phía sau họ có một con kênh. Rustam cố gắng bơi tới chỗ an toàn, nhưng một người Ả Rập tên là Hillal ibn Alkama đã tóm được chân ông, kéo ông trở lại và chặt đầu ông. Những người còn lại trong đội quân Ba Tư chạy trốn.

Những hướng mới cho Hồi giáo

Những đội quân người Ả Rập tràn qua Ba Tư. Yezdigerd trốn vào những ngọn núi Hindu Kush cao ngất, 16 năm sau ông đã mất ở đó mà ít ai biết. Những người Ả Rập tiến công dữ dội vào Afghanistan và những vùng đất ở Trung Á của Thổ Nhĩ Kỳ. Những người Hồi giáo đã “ăn một bữa no tới mức gần như không thể tiêu hóa được”. Ba Tư là một vùng đất ngoại giáo – nơi mà cả ngôn ngữ, phong tục và các tổ chức đều xa lạ với người Ả Rập. Điều này cũng đúng với những người Thổ Nhĩ Kỳ, nhưng họ là những người man rợ chất phác. Người Ba Tư là những người tiếp tục tới thiên niên kỷ của nền văn minh và họ có vẻ không phát triển bằng láng giềng của họ ở phương Đông, là Trung Quốc. Và có nhiều người Ba Tư hơn người Ả Rập. Những người Ả Rập thấy chỉ có một cách duy nhất để kiểm soát vùng đất khổng lồ mà họ đã xâm chiếm được: tôn giáo.

Kinh Koran yêu cầu khoan dung với những Người trong Kinh Thánh. Những người thờ lửa không phải là Người trong Kinh Thánh. Người Ả Rập bắt đầu việc ngược đãi tàn bạo trong thời gian dài với người Mazdaist. Một số người Mazdaist chạy trốn sang Ấn Độ, ngày nay họ được gọi là Parsees. Những người khác đã cải đạo, nhưng họ giống như hình mẫu lớn và văn minh trong những người theo đạo Hồi, họ mang những giá trị mới, những phong tục và quan điểm mới vào tôn giáo mà họ theo. Thơ Ba Tư đã nâng cao nghệ thuật thơ vốn đã phát triển của người Ả Rập. Hội họa Ba Tư hoàn toàn mới với những tín đồ Hồi giáo – những người tránh vẽ những “hình ảnh trang nghiêm”. Tất cả các công trình kiến trúc, toán học và triết học Ba Tư đã góp phần tạo nên nền văn minh Hồi giáo phát triển rực rỡ trong thời Trung cổ. Tuy nhiên, người Ba Tư cũng mang đến tổ chức có thứ bậc trong chế độ phong kiến của họ và tính không dung thứ được kế thừa từ người Mazdaist. Điều cuối cùng đã đổ thêm dầu vào lửa cho việc người Ả Rập ngược đãi người Mazdaist.

Người Ba Tư đã truyền nó cho người Thổ Nhĩ Kỳ, những người đã áp dụng nó ở vùng cận Đông – một nhân tố lớn trong việc kích động những cuộc viễn chinh. Việc chuyển đổi bằng vũ lực gần như không phải là một khái niệm mới, nhưng nó hiếm khi kiên quyết hoặc thành công như kế hoạch của tín đồ Hồi giáo ở Ba Tư. Trong thực tế, nó thành công đến mức khiến những người khác bắt chước.

Những tín đồ Thiên chúa giáo châu Âu đã học theo và áp dụng nó đầu tiên với những tín đồ Hồi giáo trong những cuộc viễn chinh, sau đó tới những người châu Âu khác và cuối cùng tới những đất nước họ chiếm làm thuộc địa. Trong một thời gian ngắn, việc người Hồi giáo làm theo nó đã dẫn tới sự xung đột quyết liệt giữa những người Hồi giáo và Thiên chúa giáo trong 1.000 năm.

William Weir/ 50 trận đánh thay đổi lịch sử thế giới

Xem thêm: 

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây