Số Mệnh con người đã được định trước: 8 câu chuyện chứng minh

0
286

Theo quan niệm của người xưa, số mệnh con người là có định sẵn, có an bài. “Sinh tử hữu mệnh, phú quý tại Thiên”, sinh tử hay phú quý của một người là do ông trời sắp đặt. Đắc được chính là vì đường đời ta có nó, không đắc được là bởi vận mệnh ta không có mà thôi. 8 câu chuyện dưới đây sẽ chứng minh Số Mệnh con người là đã được định sẵn từ trước.

1. Tả Tông Đường

Tả tông đường
Ảnh: Wikipedia.

Tả Tông Đường là trứ đại danh thần trong thời kỳ cuối của triều đại nhà Thanh, đặc cách sắc phong Tiến Sĩ, làm quan đến Đông Các Đại Học Sĩ, Quân Cơ Đại Thần, phong nhị đẳng Khác Tĩnh Hầu. Cùng Tăng Quốc Phiên, Lý Hồng Chương, Trương Chi Động được xưng là “Vãn Thanh Tứ Đại Danh Thần”.

Tả Tông Đường trước khi phát tài, mộng thấy tham gia thi hương trong tỉnh, khảo thí đậu cử nhân, cảm thấy vô cùng đắc ý. Sau đó khảo thi tiến sĩ mấy lần cũng không đậu, về sau chợt gặp chiến loạn, trở thành phụ tá quân sự, tham dự trù tính quân sự. Đại soái tiếp thu kế sách của ông nên liên tục chiến thắng, công huân cao ngút, triều đình và đại thần địa phương sôi nổi thượng sớ tiến cử ông.

Vì vậy ông ly khai mộ phủ, một mình chỉ huy một đội quân, nhiều lần đánh bại quân giặc cường hãn, tiến tới thăng nhiệm thành quan lớn, một mình đảm đương một cõi, được trao tặng tước vị đệ ngũ đẳng.

Ban đầu, nơi đại kỳ của ông đi qua đều là non xanh nước biếc, người vật xinh đẹp thanh tú, sau khi liên tiếp chiến đấu ở các nơi, đột nhiên ông bị điều đi hành quân ở vùng tây bắc, chỗ đi qua đều là vách núi hiểm trở, cách các trấn tên tuổi hào hùng ngày càng xa, đâu đâu cũng chỉ thấy cát vàng mênh mông vô tế.

Tiếp đó ông lại chỉ huy quân đội hành quân vạn dặm, tiến thẳng mà vào, càn quét biên cảnh, công danh ngày ngày càng hiển hách, không ngừng được ân sủng thăng quan tiến chức, tại biên cương thu hồi đất đai càng lúc càng rộng rãi, vì vậy dự tính sẽ cử quan phòng bị. Sau khi bố trí cơ bản ổn thỏa, ông thống lĩnh quân nhân, trở về khu vực phòng thủ khi xưa. Lúc này ông bỗng tỉnh giấc, mới biết được thì ra đó chỉ là một giấc mộng.

Mùa thu năm ấy, Tả Tông Đường trong cuộc thi hương lấy cử nhân. Ông tự biết không có hy vọng Hàn Lâm, nên sau khi tham gia hai lần thi hội, ông không vào kinh ứng thí nữa. Không lâu sau ông vào mộ phủ của Lạc Bỉnh Chương, thanh danh vang dội, Tăng Quốc Phiên cùng Hồ Lâm Dực đề khen ngợi ông trong tấu chương. Ông khởi đầu từ tứ phẩm, trợ giúp tiến hành quân vụ, rất nhanh được thăng lên làm tuần phủ Chiết Giang.

Sau khi phá được Hàng Châu, ông đi vào thượng Tây Hồ, giật mình cảm thấy như là đã đến một nơi rất quen thuộc, thật ra những cảnh tượng này ông đều đã gặp trong giấc mộng khi trước. Những gì ông trải qua sau này, tất cả đều xác minh giấc mộng đó, từng sự việc đều ăn khớp.

Sau khi Cam Túc được bình định, trong triều đình rất nhiều người cho rằng địa thế Tân Cương rất rộng lớn hơn nữa lại xa xôi, nên đối với việc tiến quân Tân Cương đều e dè, vậy mà Tả Tông Đường lại dõng dạc xuất quân viễn chinh, không hề có bất kỳ băn khoăn nào, ông tự biết đó là cơ hội lập được đại công, bởi vì trong mộng ông đã từng đi qua nơi Tân Cương này.

2. Chu Thập Nhị

Triều đại nhà Thanh, bên cầu Tiên Kiều ở Hàng Châu có một gia đình họ Hứa, nghe nói, trong nhà của gia đình đó có một con quỷ chuyên thắt cổ người; một người tên là Chu Thập Nhị làm nghề giết mổ gia cầm gia súc, ỷ vào sự dũng mãnh của bản thân, cầm dao mổ heo lên lầu nhà đó, đốt nến nằm ngủ.

Sau canh ba, ánh nến biến thành màu xanh, quả nhiên có một bà lão tóc tai bù xù, cầm một sợi dây đến. Chu Thập Nhị dùng đao chém bà, bà lão liền dùng dây thừng trói anh ta, đao chém vào sợi dây, dây thừng đã đoạn; nhưng trong chốc lát liền dài lại, hoàn hảo như lúc đầu; dây thừng quấn trên cây đao, đao cũng giống như sương mù, bị dây thừng cuốn quanh.

Hai người chiến đấu thật lâu, bà lão dần dần không còn khí lực, mắng: “Chu Thập Nhị, ta không phải sợ ngươi, đơn giản là vì ngươi còn phúc phận, còn có mười lăm ngàn đồng chưa đạt được, cho nên, ta tạm thời bỏ qua cho ngươi. Chờ ngươi đạt được số tiền kia, lại đến xem thử thủ đoạn của Kim lão nương!” Nói xong, bà lão kéo dây thừng bay đi.

Chu Thập Nhị đi xuống lầu, đem chuyện này kể cho mọi người, mọi người nhìn thấy đao của anh ta, trên nó có vết máu màu tím, hơn nữa rất hôi. Hơn một năm sau, Chu Thập Nhị bán đi nhà ở, kiếm được mười lăm ngàn đồng. Đêm đó, anh ta quả nhiên đã chết.

3. Trần Tử Văn

Trần Tử Văn (1648-1709), người Hải Ninh tỉnh Chiết Giang, cống sinh (là chỉ tú tài của cả hai triều Đại Minh và Đại Thanh, thành tích cực kỳ ưu tú, có thể vào Quốc Tử Giám trong Kinh Sư đọc sách). Vào năm Khang Hy thứ 47 (tức năm 1708) được đề bạt làm Tri phủ Nam An, là một vị quan tốt. Thơ ca, thư pháp, nổi danh đương thời. Kỳ thư Truyền Pháp Tấn Nhân, từ triều Tần, Hán, Đường, Tống cho tới nay văn tự thu thập được rất phong phú, gọi chung là lời tựa biện chứng.

Khi Trần Tử Văn mới vừa làm quan ở An Ấp, ông mơ thấy đi đến một ngôi chùa trên núi, trong miếu, đại điện, hành lang và dãy nhà làm ở hai bên đại điện, tượng Phật đều được sắp đặt một cách cực kỳ hùng vĩ tráng lệ. Trông thấy ở góc Tây Bắc gần những bức tường thấp, có một hoa viên, có một ngôi đình mới sửa chữa, còn chưa lợp ngói. Bên cạnh có người chỉ vào ông và nói: “Đây là nơi anh sẽ chết”.

Đã qua ba mươi năm, Trần Tử Văn thăng chức đảm nhiệm Tri phủ Nam An. Khi ông nhận được chức Tri phủ Nam An, từng gửi thư cho bạn bè và nói: “Trong vườn hoa nha môn có một ngôi đình được người nhà Tống xây còn dang dở, ta chuẩn bị lúc rảnh rỗi sẽ xây dựng lại căn đình này, để lúc nghỉ ngơi sẽ ngâm thơ viết chữ ở đây”.

Sau khi đến nhậm chức, một ngày, ông đi dạo ở chùa Đông Sơn, cảm thấy đại điện và dãy nhà hai bên đại điện được bày đặt giống kiểu cách mà ông đã mơ thấy ba mươi năm về trước, trong nội tâm ông vô cùng kinh ngạc, bỗng nhiên trông thấy phía Tây Bắc xuyên qua khe hở của một rừng cây, có một vườn hoa, ở giữa có một ngôi đình được thi công sắp xong, chỉ là chưa lợp ngói. Bởi vì mới đến đây, cảnh vật xung quanh còn chưa quen thuộc lắm, sau khi hỏi thăm, mới biết được là vườn sau của nha môn tri phủ, ngôi đình đó chính là ngôi đình Lục Âm từ thời tri phủ Lý Di Canh triều Tống mà chính ông là người đã xây sửa lại.

Ông càng kinh ngạc hơn, nhớ lại giấc mộng trước kia, trong nội tâm vô cùng thấp thỏm lo âu, sau khi trở về liền bị bệnh không dậy nổi rồi qua đời, rốt cuộc đã ứng nghiệm giấc mộng ba mươi năm trước.

4. Trâu Minh Hạc 

Tuần phủ thời nhà Thanh Trâu Minh Hạc (1793~1853), xuất thân ở Giang Tô, đậu Tiến sĩ năm Đạo Quang (niên hiệu vua Tuyên Tông nhà Thanh, 1821-1850). Trước khi ông trở nên giàu sang, có một lần trong mộng, ông hỏi một người bạn làm quan trông coi sách dưới âm phủ, nghe ngóng vận mệnh cuộc đời của ông sẽ như thế nào. Người bạn viết cho ông tám chữ, ghi là “Quan cư tứ phẩm, hồng thủy vi tai”. Ông đang muốn hỏi rõ hơn, thì đã tỉnh mộng.

Năm Đạo Quang, Trâu Minh Hạc được điều tới nhậm chức tri phủ Khai Phong ở Hà Nam, đúng vào lúc sông Hoàng Hà làm vỡ đê, nước chảy vào thành, nguy hiểm khó lường. Ông đem giấc mộng kia nói cho người khác biết, nghĩ rằng bản thân lần này khó thoát hiểm, nhưng cuối cùng lại bình yên vô sự.

Về sau ông nhậm chức tuần phủ Quảng Tây, bởi vì bất lực trong việc tiêu diệt quân Thái Bình mà bị cách chức. Sau khi trở về cố hương, ông nhận được thông báo của Tổng đốc Lưỡng Giang là Lục Kiến Doanh lệnh phải tới Kim Lăng, trợ giúp tiến hành chuẩn bị công tác phòng ngự, và bị giết chết khi quân Thái Bình công vào thành.

Triều đình chỉ thị chiểu theo đạo viên quy cách mà ban thưởng cho người thân của Trâu Minh Hạc. Lúc này mọi người mới nhận ra câu “Quan cư tứ phẩm” quả thực đã ứng nghiệm. “Hồng thủy vi tai” ở đây là chỉ Hồng Tú Toàn.

5. Từ Cự Nguyên

Thời nhà Minh, Từ Cự Nguyên người Nam Xương, tự là Thế Phổ, đỗ tiến sĩ năm Sùng Trinh, nổi tiếng về thư pháp, người thân họ Trâu mời ông đến để mở lớp dạy học. Trên đường đi, Từ Cự Nguyên gặp một cơn gió lạ, thổi ông lên tầng mây, thấy một người mặc trường bào, tay cầm thẻ quan đến đón ông và nói: “Minh phủ tạo cung điện, kính mời tiên sinh viết câu đối”.

Từ Cự Nguyên đi theo người này, đến một chỗ như là nơi của Đế Vương, những tấm biển câu đối đã sắp xếp xong, chỉ là chưa viết chữ. Hoành phi là: “Nhất thiết duy tâm tạo” (Hết thảy đều do tâm tạo thành). Liên ngữ là: “Tác sự vị kinh thành tử án, nhập môn do khả vọng sinh hoàn” (Sự việc chưa làm xong đã phải chết, đến cửa rồi vẫn mong sao còn được sống). Sau khi Từ Cự Nguyên viết xong, Diêm Vương suy nghĩ nên tạ ơn như thế nào, thì ông xin cho mẹ tăng thêm 12 năm tuổi thọ, Diêm Vương đã đáp ứng.

Lúc này, Từ Cự Nguyên thấy phán quan cầm sổ ghi chép sinh tử, liền xin tra giúp mình một chút, phán quan nói: “Đây là sổ ghi chép người chết bình thường, ông là chết oan. Không có ghi trong sổ này”. Nói xong phán quan lấy ra một cuốn sổ ghi chép khác có chữ Hỏa (火), trong đó viết: “Vào tháng đó ngày đó, Từ Thần Nguyên bị chết cháy”. Từ Cự Nguyên vô cùng sợ hãi, cầu xin Diêm Vương sửa lại.

Diêm Vương nói: “Đây là ý Trời. Thế nhưng, ta tạm thời đáp ứng yêu cầu của anh, nhưng anh phải nhớ kỹ ngày giờ, đến lúc đó không nên tới gần lửa là được”.

Từ Cự Nguyên cảm ơn và từ biệt Diêm Vương, trở về, vội vàng chạy tới nhà họ Trâu. Chủ nhân thất kinh, hỏi: “Một năm nay tiên sinh đi đâu vậy? Kiệu phu vì ném tiên sinh đi, bị người bẩm báo cho quan phủ, vì có điều nghi ngờ nên họ đã bị giam giữ trong ngục giam trong trấn một thời gian rất lâu rồi”. Từ Cự Nguyên kể hết duyên cớ sự tình, rồi đi đến quan phủ, giải thích mọi việc rõ ràng.

Thời đó, Hùng Văn Kỷ là người cùng huyện với ông, hiệu là Tuyết Đường, là Lại Bộ Thị Lang (Cổ xưa gọi là Thiếu Tể) đã về hưu, nhàn cư ở nhà. Một ngày, Hùng Văn Kỷ mời Từ Cự Nguyên đến uống rượu, chưa uống xong, Hùng Văn Kỷ bỗng không uống nữa, rồi nói: “Bụng tôi đau quá, không thể tiếp anh nữa rồi”.

Từ Cự Nguyên hay đùa nói: “Cổ đại có Tái Tể Bì, hôm nay lại có Thiếu Tể Bệnh sao?” Hùng Văn Kỷ nghe vậy cảm thấy rất không vui. Từ Cự Nguyên trước khi về, có viết lại một bài thơ Đường tứ tuyệt “Thiên Sơn Điểu Phi Tuyệt”* của Liễu Tông Nguyên lên vách tường, nhưng ông viết ngược lại bốn câu thơ đó, thành ra, bốn chữ cuối câu ghép lại thành “Tuyết ông diệt tuyệt”. Hùng Văn Kỷ nhìn thấy bốn chữ này, nên trong lòng ghi hận Từ Cự Nguyên.

Về sau, Từ Cự Nguyên nhớ lời nhắc lúc ở Minh phủ, đặc biệt sợ lửa, nên không dám gần vật dụng bằng gỗ, ở trong núi xây một gian phòng đá, đem theo lương thực, ở trong phòng đá tránh tai họa. Lúc ấy, bọn cướp hoành hành, Hùng Văn Kỷ phái người tung tin đồn, nói trong động ở núi Tây Sơn của Từ Cự Nguyên giấu rất nhiều vàng. Bọn cướp nghe vậy, liền lên Tây Sơn cướp bóc, kết quả không tìm thấy vàng, bọn chúng đã dùng bàn ủi thiêu đốt toàn thân Từ Cự Nguyên, khiến ông chết cháy.

6. Tần Thủy Hoàng

Tần Thủy Hoàng
Tần Thủy Hoàng, vị vua tài ba có công thống nhất đất nước Trung Hoa. Ảnh: Báo Giáo dục Thời đại.

Năm đó Tần Thủy Hoàng vì cầu thuốc trường sinh bất tử, sai phương sĩ Lô Sinh đi tìm ở núi Bồng Lai, sau khi Lô Sinh trở về, báo cáo với Tần Thủy Hoàng rằng không tìm được thuốc trường sinh, mà lấy được một cuốn “Tiên thư”, trên sách có viết một lời tiên tri: “Vong Tần Giả, Hồ Dã”.

Khi thực lực dân tộc Hung Nô mạnh dần lên, thường xâm phạm biên giới, là một nạn lớn. Vì vậy, Tần Thủy Hoàng nghĩ rằng “Hồ” trong lời tiên tri là chỉ dân tộc Hung Nô (Người Hồ), nên ông đã xuất 30 vạn đại quân, dùng con trai trưởng trợ giúp Tô Vi thị giám quân sĩ, Bắc tiến chinh phạt quân Hung Nô, chấm dứt nạn nhà Tần vong, lại xây dựng Vạn Lý Trường Thành để phòng người Hồ xâm nhập ở phía Nam.

Tần Thủy Hoàng cho rằng từ đó về sau có thể vô lo vô nghĩ, nhưng không ngờ nhân tố khiến Tần diệt vong không phải người Hồ, mà là con nhỏ của ông Hồ Hợi. Đại nhân Trịnh Huyền đời Đường cho rằng: “Hồ giả, Hồ Hợi, Tần nhị thế chi danh”, thì ra “Hồ” này không phải tộc người “Hồ” kia.

7. Lý Quang Địa

Lý Quang Địa (1642 ~ 1718), thủ lĩnh người Hồ ở Tuyền Châu An Khê. Từng giữ chức tuần phủ Trực Lệ, Thị lang Bộ Binh, Lại Bộ Thượng Thư, năm 1705, nhậm chức Đại Học Sĩ ở Văn Uyên Các (tương đương với Tể tướng). Lý Quang Địa lúc chưa phát tài phú quý, từng gặp giấc mộng kỳ lạ trong thần miếu ở đầm Cửu Long. Thần tặng ông một bộ câu đối: “Phú quý vô tâm tưởng, công danh lưỡng bất thành”. Lý Quang Địa cảm thấy bộ câu đối này nhiều điềm xấu, trong tâm ông luôn cảm thấy không được tự tại.

Về sau, Lý Quang Địa đậu Tiến sĩ năm Mậu Tuất, làm quan đến Tể tướng. Thế mới biết hai chữ “Mậu Tuất” như chữ “Thành”, cũng không phải chữ “Thành”; nói một cách khác, “công danh lưỡng bất thành” ý là “Công danh tại Mậu Tuất”.

“Tưởng” (“想”) xóa bộ tâm (“心”) phía dưới, chính là tướng (“相”). Đổi câu nói, “Phú quý vô tâm tưởng” (vô tâm tưởng nghĩa đen là không thể tưởng; còn hiểu theo ẩn ý của Thần là: vô tâm tức là xóa bộ tâm ở chữ “tưởng” thành ra chữ Tể tướng), chính là “Phú quý là Tể tướng”.

số mệnh định sẵn
Ảnh: Tổng Hợp

8. Ngô Công Tài

Ngô Công Tài thời Đại Tống, tự là Đức Sung, người Dặc Dương (nay thuộc Giang Tây). Ngô Công Tài đọc sách ở trường Thái Học trong Kinh Thành, mãi đến 50 tuổi ông vẫn còn là một kẻ vô tích sự. Vì vậy, Ngô Công Tài không muốn tiếp tục tham gia khoa cử nữa, ông định trở về quê nhà. Hôm đó ông vào miếu Nhị Tướng Công cầu mộng, nghĩ sẽ theo nội dung trong giấc mộng mà quyết định có về nhà hay không.

Trong đêm, Ngô Công Tài mộng thấy một đồng tử nói với ông: “Vận khí của ông sang năm sẽ tốt, từ nay về sau đều sẽ gặp may mắn”. Ngô Công Tài tin lời trong mộng, liền lưu lại tiếp tục học. Năm thứ hai, Ngô Công Tài được tuyển vào Thái Học thượng xá, nhưng ông nghĩ mình tuổi tác đã già, nên lại muốn về nhà.

Trong đêm, Ngô Công Tài lại mộng thấy đồng tử kia nói với ông: “Ông sắp thi đậu rồi, không cần về nhà”. Năm thứ hai, Ngô Công Tài quả nhiên thi đậu khoa cử.

Sau khi Ngô Công Tài được trao chức quan, chuẩn bị rời kinh nhậm chức, lại mộng thấy đồng tử nói với ông: “Ngày sau ông làm quan không nên lại làm Thái Thú, bởi vì kiếp trước của ông đã từng làm Thái Thú, vì thẩm án không rõ, phán quyết sai một vụ án, dù là vô ý, nhưng âm ty vẫn vì vậy mà trách cứ ông, hơn nữa cho ông mù một con mắt. Vì vậy, ông ngàn vạn lần không nên làm Thái Thú nữa, để tránh nhận lấy tai họa”.

Sau khi Ngô Công Tài tỉnh mộng, nghĩ thầm: “Mình đến 52 tuổi mới nhận được một chức quan nhỏ, đến khi cáo lão hồi hương cũng không có khả năng làm Thái Thú. Huống hồ hai mắt mình sáng ngời, sao có thể nói mình mù một con mắt chứ?” Ngô Công Tài không tin lời nói trong mộng.

Ba năm sau, Ngô Công Tài bị bệnh đau mắt, sau đó quả thật đã mù một con mắt. Ngô Công Tài nhậm chức ở châu huyện, nhiều lần thay đổi, sau khi nhậm chức Huyện lệnh Kiền Châu Đô Huyện (nay là Giang Tây Vu Đô), lại nhiều lần nhậm chức thông phán ở Định Châu (nay là Hồ Nam Hành Sơn), Vĩnh Châu (nay là Hồ Nam Linh Lăng), Kiến Khang (nay là Giang Tô Nam Kinh).

Năm Tống Cao Tông Thiệu Hưng thứ mười (1142), Ngô Công Tài vào kinh thành Lâm An (nay là Hàng Châu), vừa muốn cầu làm một phó quan ở Châu Quận.

Lúc ấy, đang nhậm chức tham gia chính sự Vương Khánh từng có tình bạn học với Ngô Công Tài, Vương Khánh nói với Ngô Công Tài: “Anh đã nhiều năm làm chức thông phán ba Châu Quận, giờ tư lịch đã cao, lẽ ra thăng làm Thái Thú, sao anh chỉ yêu cầu một chức phó quan vậy?” Vì vậy, Vương Khánh liền hướng Tể tướng đề cử Ngô Công Tài, thăng Ngô Công Tài làm Thái Thú Nghi Xuân. Ngô Công Tài rất không vui, ông vừa về đến nhà đã qua đời.

Xem thêm: