Văn minh cựu thạch: Bình minh của lịch sử loài người

602

Các nhà khảo cổ học đã chứng minh rằng, trái đất chúng ta đang sống đã từng trải qua nhiều nền văn minh khác nhau. Cứ sau một đoạn thời gian, khoảng vài nghìn năm, nền văn minh đó phát triển cực thịnh rồi bị hủy diệt bởi đại hồng thủy hoặc đại nạn khủng khiếp nào đó. Chỉ còn rất ít người sống sót, họ mất hết tư liệu sản xuất và khởi đầu cho nền văn minh mới với đôi bàn tay trắng. 

Sau vài thế hệ, không có công cụ lưu giữ, ghi chép, nên những ký ức về nền văn minh cũ bao gồm nhiều lĩnh vực như văn hóa, khoa học, kỹ thuật,… mất dần. Con người trở về với thời kỳ bình minh của lịch sử.

Đại Hồng Thủy
Hình ảnh Đại Hồng Thủy khiến nền văn minh trước đó bị hủy diệt hoàn toàn, con người trở lại thời kỳ mông muội (Ảnh: wikipedia)

Cũng vì không còn tư liệu sản xuất, nên con người thời kỳ này phải tận dụng những thứ sẵn có trong tự nhiên để sinh tồn. Một trong những thứ quan trọng nhất thời kỳ này là đá. Một viên đá được mài sắc nhọn có thể để chặt cây, chống lại thú dữ,… nói chung đá là công cụ rất hữu ích. Chính vì vậy, thời kỳ đồ đá chính là khởi đầu cho nền văn minh của con người.

Thời kỳ đồ đá được phân thành hai giai đoạn: Văn minh cựu thạchVăn minh tân thạch. Trong bài viết này, chúng ta hãy cùng tìm hiểu con người đã khởi đầu nền văn minh trong thời kỳ văn minh cựu thạch như thế nào.

Bắt đầu từ thời mousterien cách đây 15 vạn năm

Bắt  đầu từ thời mousterien[1] cách đây 15 vạn năm, thời tiết trên mặt địa cầu bỗng thay đổi hẳn, đang nóng hóa ra lạnh buốt. Người phải chui cả vào hang hốc để trú thân. Sự thay đổi về trạng thái sinh hoạt này đã đẩy người cựu thạch đến chỗ phải giải quyết những vấn đề cấp bách dưới đây:

1) Phải chiến đấu với thú dữ để tranh các hang mà ở.

2) Phải nghĩ cách che thân để cho đỡ rét.

3) Phải nghĩ cách kiếm được nhiều thức ăn để trữ bị phòng khi giá rét quá không ra được khỏi cửa hang.

Những tư liệu sản xuất được làm bằng đá thời kỳ cựu thạch
Những tư liệu sản xuất được làm bằng đá thời kỳ cựu thạch (thời kỳ đồ đã cũ) được tìm thấy ở núi Đọ tỉnh Thanh Hóa (Ảnh: wikipedia)

Mấy nhu cầu cần thiết đó bắt người cựu thạch phải sáng chế ra nhiều khí giới, nhiều dụng cụ. Sự sáng chế nẩy ra ngay trong lúc hoạt động, hoặc để đối phó với mãnh thú hay đồng loại, hoặc để săn bắn, chài lưới kiếm ăn. Khiếu thông minh thực tiễn cùng với sự khéo léo của hai bàn tay đồng thời được cuộc sống làm cho mẫu nhuệ thêm, tinh xảo thêm. Do đấy mà kỹ thuật cựu thạch về hậu đoạn phát triển rất mau, cả về lượng lẫn phẩm.

Ngoài mấy nhu cầu kia ra, sự thay đổi thời tiết còn buộc người cựu thạch:

1) Phải đoàn kết chặt chẽ hơn lên (để chiến đấu và mưu sống)

2) Phải ở chung một chỗ với nhau rất lâu (trong hang)

3) Phải thông tin với nhau nhiều hơn

Mấy điều kiện mới này đã kích thích sự phát triển của Tiếng nói, của Ý thức công cộng, của Tổ chức xã hội, của Uy quyền đoàn thể. Lại nhân phải nói ở trong hang có nhiều thì giờ nhàn rỗi, trí thông minh thực tiễn được dịp cải thiện khi các khí cụ, đoàn thể được dịp chỉnh đốn các kinh nghiệm hàng ngày, quan năng du hí ở con người nhờ sự thúc bách của tín ngưỡng ma thuật được dịp phôi thai (nghệ thuật bắt đầu có). Các bộ quan năng (kỹ thuật, trí thức, quản trị, du hí), ở tiền đoạn kỳ cựu thạch còn hỗn hợp trong một khối, đến nay đều phân khu rõ rệt. Nền văn minh của loài người tượng hình.

bức họa trong văn minh cựu thạch
Bức vẽ về một buổi đi săn của người xưa (Ảnh: khoahoc.tv)

Kỹ thuật: Nguyên liệu dùng để chế tạo khí cụ nhiều hơn lên: ngoài đá trau ra, người cựu thạch còn biết dùng cả xương, sừng, ngà, vỏ hến, gạc hươu (vì giết được thú vật nên mới có nguyên liệu này). Những vật dụng chế tạo được cũng tăng gia và chia hẳn ra vũ khí và công cụ. Vũ khí có dao, rìu, giáo, mũi tên, mác, bật. Lại có một khí cụ làm bằng một cái dây da mỗi đầu buộc hai cục đá trau to dùng để quẳng vào chân thú vật rồi giật cho nó vướng ngã.

Công cụ có: mũi nhọn, mũi khoan, đục, kim có lỗ, lưỡi câu, cưa, rũa, nạo, đèn.

Cách chế tạo cũng tinh xảo và phức tạp hơn: đã biết khoan lưỡi rìu để tra cán vào, ở đầu các mũi nhọn đã biết làm một cái khớp để đóng vào cán, vào giáo, vào tên. Riêng về cái kim thì làm thật là khéo. Kim bằng xương mài nhỏ, nhọn tắp. Đầu kim có khoan một cái lỗ để xỏ các sợi bằng gân hoặc ruột hươu- nhà tước ra. Kim và các sợi ấy dùng để khâu quần áo bằng da súc vật. Đủ biết đến lúc cần mặc ấm thì tức khắc các khí cụ làm quần áo phải nảy nở để giúp con người thích ứng với hoàn cảnh.

Cúng vì cần ấm áp mà lửa được người cựu thạch hậu đoạn đặc biệt săn sóc đến hơn ở thời trước. Trong các hang họ tụ họp chung quanh các bếp lửa để sưởi và để nấu ăn. Ngoài cửa hang họ cũng đốt lửa luôn luôn để xua đuổi ác thú.

Ngoài công dụng ấy, lửa còn dùng để chế tạo khí cụ soi sáng lúc đêm trường,  làm vui cho con người (họ nhẩy múa, ăn uống chung quanh bếp lửa). Vì thế nên đối với họ, lửa được coi như một nguồn sống, một vị thần linh. “Không có vật gì được người thái cổ chăm nom bằng lửa: họ cố giữ cho lửa khỏi tắt. Lúc đi săn bắn hay đi chiến đấu, họ đốt những bùi nhùi cho cháy âm ỉ rồi đem theo” (Gustav Schmoller). Bởi lẽ, lửa khó làm ra, khó giữ và quý giá như vậy nân các dân tộc thái cổ đều thờ Thần Lửa.

văn minh cựu thạch: lửa
Lửa là một thứ rất quan trọng thời kỳ cựu thạch nó giúp con người sưởi ấm và chống lại thú dữ (Ảnh: khoahoc.tv)

Từ thời Mousterien đến cuối đời cựu thạch – kể có hơn 10 vạn năm – kỹ  thuật tiến bộ đầu đặn, sức sản xuất tăng lên bội phần. Đó là điều kiện cần thiết để cho tư tưởng, nghệ thuật, sự tổ chức xã hội tiến triển đến những hình thái mới ở giai đoạn sau.

Tư tưởng: Nhờ có khí cụ tinh xảo sự tác động đến hoàn cảnh đã mở rộng giới hạn và thêm hiệu lực; con người cựu thạch “hiểu” thêm rất nhiều về những thuộc tính của các vật thiên nhiên. Họ biết hình tượng trong trí tuệ những vật đã dùng đến. “Nhìn thấy một vật mà nhớ ngay được nó, thế tức là đã biết dùng nó vào việc gì rồi” (H. Bergson). Họ lại đã biết hình tượng cả những việc đã làm qua. Nhưng mỗi khi hình tượng một việc thì đồng thời họ hình tượng luôn cả những sự vật ở trong phạm vi của việc ấy. Thí dụ nghĩ đến việc giết một con hươu chẳng hạn thì họ chỉ thấy hiện ra trong ký ức cảnh tượng họ chém con hươu, chém thế nào, con hươu kháng cự ra sao, nó dẫy dụa bao lâu… Cái “hình tượng” giết hươu hoàn toàn sát nhập vào những vật cụ thể thuộc về việc giết hươu.  Ở họ, hình tượng chưa rời ra được việc và vật. Đó vẫn là một hiện tượng trong phạm vi “hoạt động” (phenomene dordre moteur). Trí tuệ vẫn nằm trong địa hạt thực tiễn và có tính cách “kinh nghiệm” (caractere empirique).

Thời kỳ này, các thế lực siêu nhiên vẫn thường xuyên tác động đến đời sống con người như Thần Phật hay ma quỷ. Tuy nhiên, vì trước đó các tư liệu của những nền văn minh bị hủy diệt trước đã mất hết, nên con người không thể định nghĩa được các thế lực siêu nhiên là gì. Họ chỉ biết đó là những thế lực rất mạnh mẽ và chi phối sinh hoạt, thậm chí sự sống chết của họ, nên thời kỳ này con người thờ rất nhiều các loại hình tượng. Phải đến khi các thánh nhân như Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, Lão Tử, Khổng Tử, hay Chúa Jesu xuống giảng đạo, con người mới hiểu phần nào thế giới siêu nhiên và các thế lực vô hình.

Cũng vì không biết phân biệt được các thế lực siêu nhiên nên người cựu thạch nghĩ và hành động theo một cách thức rất thần bí. Cách thức này nhà xã hội học Levy Bruhl gọi là luật tham dự (loi de participation). Thí dụ: vì cho rằng cái bóng của một người là đồng thể với chính người ấy nên họ tin rằng hễ đánh vào cái bóng tức là người kia đau bực, chính nó bị đánh vậy. Trong óc người cựu thạch, bóng tham dự vào người: hai cái là một.

Bởi nghĩ vậy nên trước khi đi săn bison họ bầy ra một cuộc đi săn giả, trong đó họ giết được rất nhiều giống thú đó. Họ cho rằng, giống thú kia trong lúc họ săn giả mà giết được nhiều thế, thì lúc săn thật cũng giết được bằng ngần ấy.

Tóm lại người cựu thạch chưa biết tách biểu tượng về sự vật ra ngoài sự vật. Tư tưởng của họ có một mục đích duy nhất là mưu sống. Nó có tính cách tự kỷ trung tâm (egocentrique) và tiền luận lý (prelogique). Tự kỷ trung tâm là vì lấy chính mình làm cái mẫu để hiểu mọi sự vật, tiền luận lý là vì chưa nhận thức được sự mâu thuẫn của sự vật. Đó là một tư tưởng hoàn toàn thực tiễn và kinh nghiệm chưa biết vượt ra khỏi vật cụ thể để đạt tới giai đoạn tuần lý[2].

Nghệ thuật: Từ cuối thời Aurignacien (cách nay chừng năm vạn năm) nghệ thuật bắt đầu xuất hiện trong cuộc sống của loài người. Các nhà khảo cổ khám phá được nhiều hình tượng vẽ và khắc vào các hang đá, nơi trú ngụ của người cựu thạch, hoặc chạm vào ngà voi, vào mảnh xương, thỏi đá. Đó là những hình thú vật sống đồng thời với người cựu thạch: voi, hươu nhà, ngựa, cá, ngỗng trắng, bison. Cũng có ít hình cây cối, hình kỷ hà (tròn, tam giác, chấm chấm…) cảnh sống (mẹ con dắt tay nhau, hình đàn bà hai mông phệnh ra cho con bú… nhưng phần quan trọng vẫn là thú vật. Một đặc điểm của nghệ thuật tạo hình ở thời này là tính cách tả thực. Hiện nay nhiều nhà họa sic đã phải nhận rằng, người cựu thạch có lối vễ thú vật giống hệt kiểu mẫu thực không thể nào tài tình hơn được nữa.

Đứng trước một kho di tích nghệ thuật kiệt tác như vậy, sót lại một thời mà ai cũng đinh ninh là trình độ sinh hoạt còn mông muội (thời kỳ cựu thạch), các nhà bác học đời nay không khỏi lấy làm phân vân suy nghĩ muốn biết vì lẽ gì con người thời ấy lại “gắng công sáng tác ra những hình thể chính xác, những hình tượng phức tạp khả dĩ mô phỏng hoặc biểu hiện được thế giới thực tại và để tìm, một thể cách phô diễn cho tư tưởng đã phiên toái”.

Đặt vấn đề này tức là xét đến nguồn gốc của nghệ thuật.

Các nhà xã hội học giải thích vấn đề này thường chia làm ba phái:

1) Phái tìm nguyên nhân nghệ thuật ở năng lực du hí.

2) Phái tìm nguyên nhân nghệ thuật ở tôn giáo.

3) Phái tìm nguyên nhân nghệ thuật ở kinh tế.

Năng lực du hí: – Phái này chủ trì rằng trong con người có một hoạt động thiên bẩm lúc thể hiện ra không hề theo đuổi một mục đích gì hữu ích. Sức ấy đặt cứu cánh ở ngay sự thể hiện của mình. Đó là năng lực du hí (gọi nôm na là vui chơi). Đứa trẻ con lúc bầy ra những trò chơi để nô đùa, hay người cựu thạch ngồi cặm cụi vẽ, khắc, chạm những hình tượng cũng đều là để thỏa mãn cái năng lực thiên bẩm kia, chứ tuyệt nhiên không cầu một ích lợi gì thiết thực cả.

Lý thuyết này không đứng vững được. Nếu nói rằng năng lực du hí là thiên bẩm ở con người thì cớ sao trước thời Aurignacien, loài người đã sống kể hàng vạn năm mà chưa có năng lực du hí? (chưa có nghệ thuật?). Vậy là năng lực du hí cúng chỉ phát sinh ở một giai đoạn tiến hóa nào đó của loài người. Nó là một sản phẩm của lịch sử. Còn như thấy trò chơi của trẻ con để minh chứng rằng năng lực du hí là thiên bẩm, là vô mục đích thì lý giải ấy chưa được thỏa đáng. Hiện nay nhiều nhà nhân chủng học và xã hội học đã nhận thấy rằng những trò chơi của trẻ con- nhất là ở các xã hội thái cổ- không phải là vô mục đích. Những trò chơi ấy là di tích của những tác động ma thuật từ xưa còn sót lại, mục đích là giúp cho cuộc sinh hoạt được dễ dãi. Sau khi tính cách ma thuật kia- vì sự tiến hóa của xã hội- mất đi thì những tác động đó biến thành các trò chơi hữu dụng có quan hệ mật thiết với đời sống. Như những trò: ịt mắt bắt dê, hú tim rồng rắn, chọi dế, bắt tổ chim của trẻ con Việt Nam ta chẳng hạn toàn là những cách huấn luyện cho chúng được thêm nhanh nhẹn, thêm tinh khôn trong khi chiến đấu. Những trò ấy là di tích của những hành vi ma thuật có từ thời tổ tiên ta còn sống cuộc đời săn bắt, chài lưới bấp bênh và nguy hiểm, trong đó trẻ con phải tập luyện sức chiến đấu ngay từ lúc còn nhỏ để giúp bộ lạc mưu sống và tự vệ.

Thực vậy, có quan sát đời sống của trẻ con ở những bộ lạc còn dã man bên châu Phi, châu Úc mới thấy rằng trong tình trạng kinh tế thiếu thốn ấy, trẻ con không có thì giờ đâu mà “du hí”. Bao nhiêu hành vi của chúng đều do bộ lạc quyết định và kiểm soát, mà phải là những hành vi phụ lực vào cuộc chiến đấu của đoàn thể.

Nhà nhân chủng học Paul Camboue nghiên cứu trò chơi của trẻ con xứ Malgache có thuật lại một trò chơi rất ý nghĩa: trò bắt bướm đêm. Chung lây một bông hoa có thứ hương thơm mà bướm đêm (sphinx) thích nhất rồi chúng đến những bờ bụi đứng nép vào thân cây, tay chìa hoa ra, miệng như niệm thần chú: “Bướm ơi! Đây là của ngon của ngọt, bướm nên gọi các bạn đến cho đông, con nào mù thì bướm dắt lại, con nào điếc thì bướm ra hiệu cho mà lại, bướm nào đến được gần đây thì tha hồ mà hút nhị hoa: ở phương Tây là sự chua chát, ở đây là sự ngon ngọt bướm ơi!”[3]. Trò chơi này đủ tố cáo tính cách ma thuật và hữu ích cố hữu của nó. Đứa trẻ cũng dùng bộ điệu và lối hát quyến rũ bướm, để bắt bướm.

Coi vậy, lấy năng lực du hí để giải thích nguồn gốc nghệ thuật tiền sử là sai lầm. Nhưng không phải vì thế mà phủ nhận quan năng du hí ở con người. Cái này là một sự kiện có thực. Có điều là nó không phải thiên bẩm. Nó không phải nguồn gốc của nghệ thuật. Nó đến sau khi nghệ thuật đã chớm nở. Nó, cũng như nghệ thuật là một sản vật xã hội.

Nghệ thuật và tôn giáo. – Nhà xã hội học Lahy-Hollebecque, trong thiên sách “Bàn về nghệ thuật”, sau khi nghiên cứu các hình vẽ của người thái cổ có kết luận rằng: “Mục đích của nghệ thuật tiền sử là biểu tượng những vật linh thiêng, cho con người tiếp xúc với thần thánh và phô diễn cái ý kính trọng, muốn thần phục thần thánh của con người.

Họ tin rằng, nhờ sự vẽ hình họ có thể kết nối với thần linh. Vậy thì đó không phải là nghệ thuật theo nghĩa mà ta thường hiểu. Mặt khác nghệ thuật là một công tác ma thuật lấy sự vẽ hình làm khí cụ để đạt hiệu quả, tương tự như vẽ bùa chú hiện nay. Vẽ hình các vật linh thiêng tức là gọi chúng đến, bắt chúng hiểu ra ở trước mắt, tức là thực hành một phép phù chú cụ thể mà người thái cổ tin là có hiệu quả nhất.

Tại sao người cựu thạch lại tin ở phép phù chú như vậy? Tại họ có một quan niệm đặc biệt về sự vật. Họ cho rằng vạn vật đều có thần linh (ý chí) điều khiển. Họ tin rằng có thể ảnh hưởng đến các thần linh ấy bằng nghi lễ ma thuật. Sở dĩ tin thế là bởi họ tư tưởng theo luật tham dự thần bí. Nghĩa là họ cho rằng muốn tác động đến một vật nào chỉ cần tác động đến biểu tượng của vật ấy là đủ. Thí dụ: muốn giết ai chỉ cần chém vào bóng nó hoặc vào hình ảnh của nó. (Trong chuyện Phong thần của Trung Hoa, ta thấy có đoạn tả một tên phù thủy muốn giết kẻ thù ở bên địch liền lấy rơm kết thành hình người, dán vào hình rơm đó tên họ kẻ thù kia, đặt hình rơm lên đàn cúng rồi bắn rơm vào nó. Bắn vào mắt thì bên quân địch kẻ thù thấy đau mắt, bắn vào bụng đau bụng… Đó cũng là một phép ma thuật do luật tham dự thần bí cấu thành).

Vì tin tưởng như thế nên người thái cổ mới vẽ hình những giống thú vào hang đá, vào cán dao, cán tên, mục đích là gọi các giống ấy đến giết chúng dễ dàng. Công dụng của những hình vẽ ấy cũng giống như công dụng của cuộc khiêu vũ săn bison vậy. Nghệ thuật tạo hình của người cựu thạch chỉ là một nghi lễ ma thuật như trăm nghìn nghi lễ ma thuật khác. Như lời nhà khảo cổ học Pottier, “sự trang hoàng- cũng như sự trang điểm của con người thái cổ- lúc khởi thủy chỉ là một khí cụ thực dụng, một phương tiện hành động”.

Lý thuyết vừa dẫn ở trên cắt nghĩa nguồn gốc nghệ thuật cựu thạch bằng sự tác động ma thuật không phải là không đúng. Nó chỉ thiếu sót. Những người chủ trương nó chưa chịu đào vấn đề cho sâu xuống chút nữa. Nếu đào sâu xuống họ sẽ phải đặt ra mấy câu hỏi này: Tại sao lại có sự tác động ma thuật kia? Mục đích của nó là gì? Nhờ đâu mà nó thực hiện được? Đặt mấy câu hỏi ấy, tức là bước vào quan điểm giải thích gốc tích nghệ thuật bằng kinh tế.

Nghệ thuật và kinh tế. – Theo quan điểm này, thì bao nhiêu năng lực sinh lý và tâm lý của con người cựu thạch đều phải dùng vào cuộc sinh tồn cả. Trong một tình trạng thiếu thốn, bất ổn như ở thời đó – gãy ra bởi trình độ kém cỏi của kỹ thuật sản xuất- không có một hành vi nào mà không “vị nhân sinh” được.

Không ai có quyền du hí vì đoàn thể lúc nào cũng ở thế “tấn công” hoặc “tự vệ”, không cho phép con người làm một việc gì không ích lợi cho sự sống còn chung.

văn minh người cựu thạch
Bức họa mô tả những người đàn ông thời kỳ cựu thạch (Ảnh: dkn.tv)

Nhưng khác hẳn những thời man muội trước, ở hậu đoạn thời cựu thạch, con người đã nhờ sự tạo tác ra được nhiều khí cụ mà có được nhiều biểu tượng về ngoại giới. Lại nhờ có đời sống xã hội phồn thịnh làm cho ngôn ngữ thêm dồi dào, con người đã có ý niệm phong phú về những hành vi của mình. Tới trình độ sinh hoạt này họ đã tạo ra được một hệ thống tin tưởng tương xứng với hệ thống kỹ thuật. Rồi chính hệ thống tin tưởng ấy họ đem dùng luôn làm một lợi khí tranh đấu. Do đó, nẩy ra ma thuật. Tác động bằng ma thuật tức là tin tưởng rằng mình có thể ảnh hưởng đến “thần linh” được. Cái gì đã giúp cho họ tin như vậy? Nguyên nhân chỉ là sự tăng gia của sức sản xuất.

Kỹ thuật tăng tức là sức chế ngự ngoại giới tăng. Đã nhờ khí cụ chế ngự được vật thì tất nhiên xẩy ra cái ý nghĩ có thể chế ngự được “thần” điều khiển vật ấy bằng ma thuật. Ma thuật chỉ là một thứ khí cụ đặc biệt mà người cựu thạch dùng để mưu sống. Hơn nữa, sự thực hiện một tác động ma thuật cũng lại bị trình độ kỹ thuật quy định. Nếu như chưa chế tạo được đục, búa, mũi nhọn thì lấy gì mà khắc, mà chạm hình này hình nọ? Nếu trình độ kỹ thuật chưa đủ cung cho người cựu thạch đủ thức ăn trữ bị để ngồi rồi trong hang thì lấy đâu thì giờ mà trau dồi sự tác động ma thuật bằng cách vẽ, khắc, chạm?

Tóm lại, ở con người thái cổ trước khi có sự du hí, đã có sự lao động và sự chiến đấu. Mưu sống: đó là động lực khởi thủy của người cựu thạch – nghệ thuật tạo hình (arts plastiques) cũng như những nghệ thuật khác (khiêu vũ, ca nhạc, trang điểm). Phương pháp thể hiện nghệ thuật (vẽ, chạm, khắc) là một phương pháp tác động thần bí. Những vật liệu đã giúp nó cấu thành cái hệ thống tin tưởng và kỹ thuật của người cựu thạch. Tất cả những cái đó (mưu sống, tin tưởng, khí cụ) đều bị trình độ sản lực của xã hội quy định, bao giờ sản lực biến đổi thì tất nhiên cuộc sống, sự tin tưởng cách hành động, (những yếu tố cơ bản của nghệ thuật) cũng biến đổi theo.

Có người lại cãi rằng: “Rất có thể những hình vẽ của người cựu thạch mang một tính cách ma thuật, bởi vì đối với người thái cổ cũng như đối với con trẻ, hình ảnh của một vật tức là chính nhân vật ấy. Nhưng muốn có một ý niệm về sự ảnh hưởng đến vật bằng hình ảnh của vật thì ít nhất hình ảnh này cũng phải có đã, phải đã được sáng tác ra rồi vì thấy nó giống hệt với vật nên người  thái cổ mới lầm tưởng rằng nó là hiện thân của vật” (F.Sartiaux). Ta có thể đáp lại rằng: muốn sáng tác ra hình ảnh một vật thì ít nhất cũng phải trông thấy vật ấy, tiếp xúc với nó, nhất là tác động đến nó. Rồi ít nhất cũng phải có cái tin tưởng rằng vẽ hình nó ra trước mắt tức là bắt nó đến, bắt nó hiện ra thì con người mới nghĩ đến sự vẽ ấy. Khi đã tác động đến vật, đã có tin tưởng ma thuật và chế tạo ra được khí cụ cần thiết thì đối với con người cựu thạch, vẽ, khắc, chạm những hình thú vật chỉ là những công trình tác tạo rất thường của trí thông minh thực tiễn và hai bàn tay khéo léo. Huống hồ sự tạo tác này lại do sợ sinh tồn thôi thúc và lại được xã hội kích thích, tôn quý thì cái tài tình của những di tích nghệ thuật cựu thạch tưởng không gì là lạ lắm.

Đời sống xã hội. – Về đời sống xã hội của người cựu thạch hậu đoạn, ta không có tài liệu đích xác. Ta lại phải theo phương pháp loại suy, nghiên cứu những giống người còn sống hiện nay ở các châu Phi, Mỹ, Úc mà trình độ kỹ thuật, tri thức tương tự với hậu đoạn thời cựu thạch. Thì ta có thể ức đoán rằng thời đó, con người sống theo từng nhóm một. Bởi nghệ thuật tạo hình có tính cách thần bí, nên sự quản trị thuộc về thợ vẽ, thợ khắc, thợ chạm, tuy vậy, uy quyền quản trị vẫn chưa vững vàng chưa thường trực. Vì chưa có của riêng nên chưa có giai cấp rõ rệt. Trong nhóm vẫn chỉ có sự phân công giữa đàn ông và đàn bà, giữa loại người nhiều tuổi và loại người ít tuổi. Những quy pháp ấn định các hành vi tư tưởng của mọi người chỉ là một mớ cấm kỵ, một mớ lễ nghi thần bí.

Xã hội cựu thạch là một tổ chức rời rạc, thưa dân số quá. Đó là kết quả tự nhiên của cuộc sống lưu đãng, săn bắn và chài lưới.

Cho nên cuối thời Magdalenien, một loại người mới từ phương Đông tràn sang phương Tây, sau một nền kỹ thuật rất cao sống bằng nông nghiệp và chăn nuôi đã tiêu diệt hết loại người cựu thạch kia, gây nên một văn minh khác hẳn: văn minh tân thạch.

Ghi chú:

[1] Các nhà nhân chủng học đã căn cứ vào tên các chỗ đào được di tích kỹ thuật củ người thái cổ đời cựu thạch mà chia ra làm 5 thời: Thời Chelleen và Acheuleen (thuộc về tiền đoạn kỳ cựu thạch) thời Mousterien, thời Aurignacien, thời Solutreen, thời Magdelenien (thuộc về hậu đoạn kỳ cựu thạch)

[2] Có nhà xã hội học căn cứ vào những phát kiến của tục săn sóc người chết của người cựu thạch (biết chôn, biết trang điểm người chết bằng cách thoa son phấn đỏ vào thân thể, biết trói chân tay người chết) mà chủ trương rằng người cựu thạch đã biết quan niệm về linh hồn tách ra khỏi xác thịt motion dun double invisible. Nhưng thực ra chủ trương như vậy có vẻ võ đoán quá. Vì không có dấu vết gì chứng tỏ rằng họ biết săn sóc hay tôn thờ linh hồn. Nếu họ tin rằng linh hồn người chết ở nơi khác rồi thì họ còn săn sóc đến cái xác chết làm gì? Vả lại, xét kỹ những nét vẽ của họ khắc vào đá thì thấy ngay rằng họ chưa biết “làm sai” những vật họ vẽ dễ thỏa mãn trí tưởng tượng của họ về thế giới vô hình.

[3] Paul cambone- Jeux dé cufants Magaches Anthropos Sept-Oct, 1911, vol. VI. Fasc 5

Xem thêm: