Truyện ngắn 9: Kẻ lừa bịp bị bẽ mặt hay người vợ được minh oan

74

Bà Elise vừa mới kể xong câu chuyện quả thực rất hay của mình, thì nữ hoàng đã tiếp lời ngay với một nụ cười thật duyên dáng. Bà có dáng người vừa quí phái, đều đặn rất phù hợp với khuôn mặt đẹp rạng rỡ. Bà đã bắt đầu như thế này: Tôi cần phải giữ lời hứa với ông Dionéro; vì chỉ còn ông ấy và tôi chưa kể chuyện, tôi xin kể trước để cho ông ấy kết thúc buổi sinh hoạt theo như yêu cầu của ông ấy.

Quỳ bà đã biết có một câu tục ngữ nói kẻ lừa bịp không sớm thì muộn thế nào cũng bị trừng trị vì việc lừa bịp hắn của hắn. Câu chuyện tôi sắp kể dựa trên câu tự ngữ dân gian đó, mà chân lý của nó có thể dễ dàng chứng minh bằng thực tế cũng như bằng lý luận. Tôi nghĩ rằng câu truyện này sẽ làm cho quí vị vui thú cũng như nó sẽ đề phòng cho quí vị tránh được những cái lưới của trò bịp bợm.

Nhiều công việc buôn bán đã thu hút nhiều thương gia Italia đến Paris. Họ đã trọ trong cùng một quán và thích cùng ngồi ăn chung. Một buổi tối, sau bữa ăn, vui vẻ hơn thường ngày, họ bắt đầu kể chuyện tán tỉnh phụ nữ. Câu chuyện chuyển sang nói về chính các bà vợ cảu họ lúc nào không biết. Vì tất cả họ đều đã có vợ. Tôi không biết vợ tôi làm thế nào, – một người nói – nhưng tôi biết rõ khi nào tôi có dịp được nếm một món ăn lạ thì tôi rất thích. Tôi cũng thế; – một người khác trả lời – và thực tế là vợ tôi cũng cùng một giuộc như vậy: trong mọi trường hợp, dù tôi có tin hay không thì đều thế cả. Một người thứ ba cũng nói gần giống kiều ấy, và mỗi người hình như đều tin chắc rằng vợ mình có lợi dụng thời gian và sự vắng mặt của chồng. Chỉ có một người tên là Bernard Lomelin ở Gênes là có ý nghĩ trái lại, ít ra là đối với những gì liên quan đến anh ta, anh quả quyết rằng nhờ ơn Chúa, anh có một người vợ thật thà và hoàn hảo nhất Italia. Tiếp đó anh kể ra những đức tính của chị, ca ngợi sắc đẹp, sự trẻ trung, vẻ lanh lợi, dáng người thon thả, lòng yêu lao động, sự khéo léo các việc nữ công; anh còn nói thêm rằng quan hầu ngự thiện giỏi nhất cũng không thể tự phụ rằng mình có thể hầu bàn thoải mái, duyên dáng và lịch sự hơn được. Anh còn khoe tài khéo điều khiển ngựa, cách nuôi chim, tài đọc sách, viết chữ, cách giữ sổ sách kế toán và các công việc buôn bán. Sau khi khen ngợi các đức tính của chị anh đi đến chủ để bàn cãi và chủ trương rằng không có người vợ nào trong trắng và đức hạnh hơn vợ anh ta. Nhờ có thế anh đã tin chắc rằng nếu anh có vắng nhà hơn mười năm liền hay thậm chí cả đời thì chị ấy cũng không nghĩ đến chuyện thiếu chung thủy.

Những câu nói cuối cùng đó làm cho một thanh niên trong hội tên là Amboise phì cười. Để chế giễu Bernard hắn ta hỏi có phải vua đã cho anh ta cái đặc quyền lạ lùng ấy không. Người Gênes hơi điên tiết trả lời hắn rằng không phải anh được đặc ân ấy của vua, mà chính là của Chúa, vì Chúa có quyền hơn vua. Tôi tin rằng, – Amboise đáp lại ngay – anh rất thực tâm; nhưng xin phép anh cho tôi nói với anh rằng nói như anh tức là chưa hiểu bản chất của vấn đề. Nếu anh đã xem xét nó vô tư thì anh sẽ nghĩ khác hẳn. Vả lại, anh cứ hình dung rằng sở dĩ chúng tôi có thể nói về vợ chúng tôi là chúng tôi có lý do để phàn nàn về vợ chúng tôi hơn là anh; nhưng chúng tôi đã nói như vậy chỉ là theo đúng với sự hiểu biết của mọi người về giới tính nói chung. Nhưng chúng ta hãy suy luận một tí về chủ đề này. Có phải là ai ai cũng đều biết rằng người đàn ông là động vật hoàn hảo nhất từ bàn tay của tạo hóa mà ra không nào? Do đó, người đàn bà chỉ đứng vào hàng thứ hai: vì thế mọi người đều nhất trí nói rằng đàn ông can đảm hơn, mạnh mẽ hơn và bền chí hơn, còn đàn bà thì rụt rè và hay thay đổi. Tôi có thể nói rộng ra với anh ở đây những lý do và những nguyên nhân của sự khác biệt này; nhưng bây giờ có đi ngày vảo thảo luận này cũng vô ích bởi vì nó sẽ dẫn chúng ta đi quá xa. Chúng ta chỉ kết luận rằng nếu người đàn ông vốn rắn rỏi hơn, khỏe mạnh hơn, và kiên định hơn, không chống lại được một người đàn bà, tôi không nói người đàn bà mong muốn và kích thích anh ta, mà còn không cưỡng lại được ngay cả lòng ham muốn của anh ta đối với người đàn bà mà anh ta thích; nếu anh ta không thể tự ngăn mình tìm cách để thỏa mãn lòng ham muốn đó; nếu cuối cùng anh ta bị ngã gục mỗi khi có cơ hội, thì một người đàn bà đương nhiên yếu đuối và không vững làm sao mà chống lại được những khẩn khoản, những nịnh nọt, những quà tặng, nói tóm lại, tất cả các nguyên nhân mà một người tình say đắm có thể sử dụng để quyến rũ? Anh có thể nghĩ chị ta chống chọi được bao lâu không? Anh có thể thuyết phục điều đó cũng vô ích, tôi khó mà tin được rằng anh lại chất phác để có thực tâm về chuyện này. Dù cho vợ anh có đáng chuộng đến mấy thì chị ấy cũng là bằng xương bằng thịt như mọi người khác, cũng bị tác động của những dục vọng, những ham muốn, những đeo đuổi như những người khác. Ấy vậy mà, như kinh nghiệm chứng tỏ hàng ngày là những người khác xiêu lòng, thì rất có thể và có lẽ là chị ấy, tôi gải sử rất đức hạnh, cũng xiêu lòng thôi; nhưng khi điều đó là không thể tránh khỏi thì anh không nên chối khăng khăng như thế.

Tôi là lái buôn chứ không phải là triết gia; – Bernard trả lời – là lái buôn tôi xin trả lời rằng những gì anh nói có thể đến với những người đàn bà chẳng có chút danh dự nào; nhưng những phụ nữ có danh dự đều vững vàng hơn, kiên định hơn, ít bị lay chuyển hơn đàn ông, mà đàn ông thì như anh đã biết, luôn luôn lo chăng bẫy cho đức hạnh của họ, và tôi thành thật đoán chắc rằng vợ tôi ở trong số những phụ nữa đó. Ambroise cãi lại: Những lần mà các bà vợ chiều lòng những người khác thì chồng họ mọc sừng trên trán, tôi không tin rằng số người đó lại là ít; nhưng vì chẳng có dấu hiệu gì phân biệt những người ngoan với người không ngoan nên thanh danh của họ không bị tổn hại gì cả. Chỉ có khi nào sự việc công khai ra thì họ mới bị mất danh dự. Vì thế, chắc gì những bà giữ được bí mật lại chẳng xiêu đổ. Sẽ là rồ dại về phía họ nếu họ cưỡng lại. Từ đó, tôi kết luận chỉ có những bà nào không được nài xin hoặc bị từ chối khi tự họ chủ động mới là đoan trang và chung thủy. Mặc dù đó là ý nghĩ của mọi người, nhưng tôi cũng sẽ không nói một cách xác thực như thế, nếu bản thân tôi không có hàng nghìn lần kinh nghiệm. Tôi xin mạnh dạn nói thêm rằng nếu tôi ở gần bên vợ anh, bên người đàn bà thành thật đến thế, đức hạnh đến thế, tôi cũng không cần phải có nhiều thời gian lắm mới đưa chị ấy đến chỗ làm với tôi những gì tôi đã làm với bao người khác, cũng như chị ấy, rất tự hào về tính thật thà của mình.

Bernard hết sức nổi giận, đáp lại: sự tranh luận này đưa chúng ta đi quá xa. Cứ bên này đối lập, bên kia trái ngược mãi thì chẳng bao giờ kết thúc. Nhưng vì anh quá thành kiến đối với đức hạnh của phụ nữvà anh nghĩ rằng không có một bà nào có thể cưỡng lại anh, tôi đánh cuộc cái đầu tôi đem ra mà chặt nếu anh có tài đánh bại được vợ tôi; còn như nếu anh thua thì anh phải mất một nghìn đuca. Tôi làm gì được với cái đầu của anh – Ambroise bắt đầu nóng lên, trả lời – nếu tôi thắng được chị ấy? Nhưng nếu anh cứ chắc mẩm rằng tôi chẳng làm gì được thì anh hãy đánh cuộc năm nghìn đuca, tất nhiên là không quý bằng cái đầu của anh, chọi lại một nghìn đuca của tôi, và tôi sẽ làm đầy tớ cho anh. Mặc dù anh không hề nêu ra thời hạn, nhưng tôi chỉ cần ba tháng tính từ ngày hôm nay, để làm cho vợ anh biết vâng lời trước những ý muốn của tôi. Nếu anh đồng ý với đề nghị của tôi tôi xin đem về những chứng cứ thành công trong chuyến đi của tôi để cho anh phải hoàn toàn khuất phục. Nhưng tôi cũng đòi hỏi anh không được về Gênes và không được viết thư cho chị Lucrèce để thông báo cho chị ấy biết về chuyện đánh cuộc này. Bernard trả lời là anh cũng không đòi hỏi gì hơn và anh chấp nhận các điều kiện. Những thương gia khác sợ cho vợ Bernard gặp phải chuyện đáng tiếc, nên đã cố gắng phá việc đánh cuộc đó, nhưng chỉ vô ích. Hai người đều nóng tiết chẳng chịu nghe gì hết, và hứa hẹn với nhau bằng hình thức giấy cam kết.

Ngay hôm sau Ambroise rời Paris đi Gênes. Vừa đến nơi, hắn đã hỏi thăm nhà của người đàn bà và cách xử thế của bà. Qua dư luận quần chúng hắn được biết bà còn đoan trang, dữ tợn hơn là chồng bà ta nói, hắn nghĩ rằng hắn đã tự đâm đầu vào việc làm rồ dại mà hắn sẽ không thể nào đạt được mục đích. Tuy nhiên, sau khi làm quen được với một bà già hay đến thăm thiếu phụ này, và được thiếu phụ rất quý, hắn đã quyết định đẩy cuộc phiêu lưu đi xa hơn. Bà gìa này không dễ tính như hắn nghĩ. Hắn đã phải dùng tiền mới mua chuộc được. Tất cả những gì bà già có thể giúp cho hắn là dùng một mưu kế đưa hắn vào phòng của giai nhân. Ambroise thuê làm một chiếc hòm theo kiểu của hắn nghĩ ra, rồi hắn chui vào trong đấy, và bà già lấy cớ đi xa, nhờ vợ Bernard giữ hộ mấy ngày, đặt nó ngay ở một góc phòng ngủ say, hắn liền bước ra khỏi cái hòm mà khóa mở được cả ở trong và ở ngoài. Hắn thấy cây nến vẫn cháy, vì người ta không có thói quen tắt nó đi; nhờ đó hắn có thể quan sát căn phòng, các tấm thảm, các bức tranh cùng đồ trang trí khác. Và nhớ kĩ trong óc tất cả các đồ đạc. Tiếp đó hắn đến bên giường: thiếu phụ nằm với một đứa con gái nhỏ, cả hai mẹ con ngủ rất say, hắn dở chăn đắp bà mẹ thật thận trọng, và nhận thấy rằng tất cả các vẻ đẹp kín đáo nhất đều hoàn toàn hài hòa với những nét đẹp của khuôn mặt. Vì bà trần truồng như nhộng, chẳng có gì ngăn cản hắn ngắm nhìn thỏa thích để xem bà có gì đặc biệt trên mình. Nhờ đưa mắt nhìn khắp các bộ phận khác nhau trên thân thể, hắn nhận thấy dưới vú trái của bà có một u nhú thịt thừa nhỏ, xung quanh có ít sợi lông vàng hoe. Sau khi đã ngắm nhìn kĩ, hắn đắp chăn lại cho bà thật nhẹ nhàng mà không khỏi rạo rực trong lòng. Thậm chí hắn định liều mạng lên nằm ngang cạnh bà; nhưng vì  hắn biết rằng bà không phải thuộc loại dễ tính nên không dám mạo hiểm. Hắn xem kĩ lại tất cả các góc phòng và thấy một chiếc tủ để mở, hắn lấy trong đó ra một cái túi, một dây thắt lưng, một chiếc nhẫn và một chiếc áo xấu xí đem bỏ vào hòm của hắn rồi chui vào hòm tự khóa lại trong đó, không để thoát ra tiếng động. Hắn còn nằm trong đó thêm hai đêm nữa đúng như đã hẹn. Đến ngày thứ ba bà già xuất hiện để xin lại chiếc hòm như đã hẹn, và thuê đưa nó đến nơi mà bà đã nhận nó. Ambroise ra khỏi cái nhà tù nhỏ đó, thưởng côn cho bà già và lên đường trở lại Paris với những quần áo mà hắn đã lấy cắp của vợ Bernard, được biết theo cái tên là bà Genèvre. Hắn về trước thời hạn ba tháng và gặp lại ở quán những thương nhân đã làm chứng cho việc đánh cuộc của hắn. Hắn mời họ họp lại và nói với họ, trước mặt Bernard rằng hắn đã thắng cuộc, bởi vì hắn đã thực hiện xong những gì cam kết. Để chứng tỏ rằng hắn không lòe bịp, hắn đã mô tả căn phòng ngủ của thiếu phụ, nói rõ các bức tranh trang trí và giơ ra những quần áo và đồ trang sức lấy cắp, bảo rằng bà đã tặng hắn.

Bernard hơi mất tinh thần, công nhận căn phòng đúng như hắn nói. Anh cũng nhìn nhận rằng các đồ trang sức quả đúng là của vợ anh; nhưng anh muốn có những bằng chứng khác, vì theo anh nói, đối với những chứng cứ đó thì Ambroise có thể mua những đồ trang sức ấy từ một tên đầy tớ nào đó để nó cho biết những thông tin về hình dạng căn phòng, chiếc giường và những đồ đạc khác của vợ anh. Như thế lẽ ra là đủ rồi – Ambroise trả lời – nhưng anh còn muốn có những điểm thuyết phục hơn thì tôi cũng để anh thỏa mãn: Bà Genèvre, chị vợ nghiêm trang cảu anh, có ở dưới vú trái một u nhú hơi to, xung quanh có năm hay sáu sợi lông màu sắc rất giống nhau như những sợi chỉ vàng.

Những lời nói đó đâm nhói vào tim Bernard. Anh liền rời Pháp đi Gênes ngay, và dừng lại ở một trong những biệt thự của anh cách đấy khoảng mười dặm. Anh viết thư cho vợ bảo đến tìm anh, và sai một đầy tớ tin cẩn cùng với hai con ngựa đến đón chị. Anh ra lệnh cho tên đầy tớ khi nào đến chỗ vắng thì phải giết chị ta không thương tiếc, và trở về thật cấp tốc sau khi giết.

Tên đầy tớ đến Gênes, đưa thư cho bà Genèvre. Được tin chồng về, bà này vui mừng hết sức. Ngay ngày hôm sau bà đi đón chồng, chỉ có một mình tên đầy tớ đến tìm bà đi theo. Trong khi đang nói chuyện, họ đi vào trong một thung lũng sâu và vắng vẻ hai bên có những quả đồi cao, cây cối um tùm. Nơi này có vẻ phù hợp để thi hành lệnh của chủ. Tên đầy tớ rút kiếm ra và tóm lấy cánh tay thiếu phụ: Thưa bà – hắn nói – bà hãy gửi linh hồn bà cho Chúa đi; bà cần phải chết, không được đi xa hơn nữa. Trời đất ơi! – bà hoảng hốt kêu lên – Tôi đã làm gì anh để anh giết tôi? Anh hãy ngừng lại một tí đã. Xin anh hãy nói, trước khi giết tôi, tôi đã xúc phạm anh về cái gì, và cái gì khiến anh muốn lấy mạng tôi? – thưa bà, bà không hề xúc phạm tôi; tôi cũng không biết bà có xúc phạm chồng bà không; nhưng ông ấy đã ra lệnh cho tôi giết bà không thương tiếc, và ngay cả dọa sẽ treo cổ tôi nếu tôi không thi hành lệnh của ông ấy. Bà biết là tôi lệ thuộc vào ông ấy đến mức độ nào rồi đấy, tôi không thể nào không vâng lời ông ấy được. Chúa chứng giám cho tôi là tôi hành động bất đắc dĩ, và tôi thương hại cho số phận của bà: nhưng rốt cục tôi vẫn phải theo lệnh của ông ấy. A! Anh bạn quý hóa của tôi! – Bà Genèvre vừa nói vừa khóc – tôi xin để thần thánh làm chứng cho là tôi không bao giờ làm gì chồng tôi để anh ấy phải đối xử dã man thế này. Tôi xin anh tha mạng. Anh đừng tự biến mình thành tội phạm một vụ giết người để làm hài lòng ông chủ của anh. Tôi muốn anh đọc được tận đáy lòng của tôi; anh sẽ thương hại nó, vì thấy nó vô tội; nhưng đừng tìm cách biện bạch cho tôi, chỉ xin anh nghe tôi nói. Anh có thể vừa cứu tôi lại vừa làm cho ông chủ vui lòng: anh hãy cầm quần áo của tôi và chỉ cho tôi một phần quần áo của anh. Chồng tôi sẽ rất dễ dàng tin rằng anh đã giết tôi. Tôi xin thề với anh rằng tôi đội ơn anh cho sống, tôi sẽ đi thật xa, anh và chồng tôi cũng như mọi người trên đất nước này sẽ không bao giờ nghe nói về tôi.

Tên đầy tớ quá kinh tởm việc giết người, đã xiêu lòng. Hắn cầm những quần áo của bà và cho bà một cái áo vét tồi tàn với một chiếc mũ, vứt lại cho bà một ít tiền của bà mang theo, và bỏ bà lại trong thung lũng này vừa dặn bà phải đi khỏi đó thật nhanh. Về đến nhà chủ, hắn nói là hắn đã thi hành mệnh lệnh và hắn đã trông thấy những con sói bắt đầu đào bới mộ bà vợ ông ta.

Mấy ngày sau Bernard đi đến Gênes. Sự biến mất của vợ dù sao cũng làm anh nghi ngờ mưu đồ bị bại lộ, và sự nghi ngờ đó làm cho anh khiếp sợ tất cả những người lương thiện.

Bà Genèvre bất hạnh nguôi ngoai được tí chút về nỗi đau nhờ ý nghĩ được thoát chết, đã cố nấp cho đến đêm; rồi đi suốt đêm cho đến sáng thì đến một làng khá xa cái thung lũng mà ở đó suýt nữa thì bà gặp một chuyện thảm hại. Một người đàn bà tốt bụng cảm động vì tình trạng đáng buồn của bà đã ân cần giúp đỡ. Chị ta đưa cho bà kim, chỉ và kéo để sửa lại quần áo. Bà cắt ngắn lại cái áo vét cho vừa người, lấy chiếc áo sơ mi may cái quần đùi theo kiểu thủy thủ và tự cắt bộ tóc dài đẹp của bà ra tóc ngắn. Ngày hôm sau, bà cải trang thành thủy thủ, lên đường đi về phía bờ biển. Bà đến gặp một hiệp sĩ Catalan tên là Encarach, chủ của một chiếc tàu đang đậu trong vũng gần thành phố Albe. Ông đã rời tàu để đi giải khát ở một mạch nước gần cảng. Bà vừa trông thấy ông đã chạy ngay tới. Bà nói chuyện một chốc với hiệp sĩ, xin làm người hầu cho ông; và đã được ông sẵn sàng nhận, vì ông rất thích khuôn mặt và tính khí của bà. Ông đưa bà xuống tàu và sai người đem cho bà quần áo tốt hơn. Bà thận trọng giấu không cho ông biết giới tính và tên thật của mình, đã tự giới thiệu tên là Sicuran. Thuyền trưởng rất hài lòng về cách phục vụ và trí thông minh của bà và rất mừng rằng tình cờ đã gặp được một người đầy tớ tốt.

Chiếc tàu chở hàng đến thành phố Alexxandrie đã cập cảng trong thời gian ngắn. Encarach, sau khi bán hết hàng, đã đem nhiều con chim ưng đến biếu nhà vua. Vị vua này đón tiếp ông một cách niềm nở và mời ông nhiều lần ăn cùng bàn. Bề ngoài và cung cách phục vụ chủ của Sicuran trong bữa ăn làm cho nhà vua rất thích, khiến ông đề nghị với hiệp sĩ Catalan nhường anh cho mình. Hiệp sĩ không dám từ chối, dù cho rất gắn bó với người đầy tớ này. Chỉ trong thời gian ngắn Sicuran đã được nhà vua yêu quý như là đối với một thuyền trưởng chẳng có ngày nào anh không được nhà vua cho một đặc ân nào đó.

Hàng năm ở thành phố Acre lệ thuộc của nhà vua này, đều có một loại hội chợ lớn thu hút một số đông thương nhân lương hay giáo từ các nước đến đây. Ngoài đội tuần tra và các sỹ quan công an để duy trì trật tự trong thành phố này, nhà vua còn có thói quen cử đến đây, trong thời gian hội chợ, một đội quân chọn lọc được giao cho một người tín cẩn chỉ huy, để chuyên việc bảo vệ các thương gia và hàng hóa. Thời gian hội chợ tới thì Sicuran đã học được tiếng địa phương này, nên được lệnh đến đấy với tư cách là chỉ huy. Anh đã hoàn thành trách nhiệm một cách hoàn hảo. Công việc buộc anh phải hội ý luôn với các thương nhân, trong số đó anh đã gặp những người Sicile, người Pise, người Gênes, người Venise. Vì quê hương yêu dấu, anh thích chuyện trò với người Italia. Một hôm vào cửa hàng của các lái buôn Venise, anh thấy trong số các đồ trang sức có một cái túi và một dây thắt lưng mà anh nhận ra là của mình. Anh hết sức ngạc nhiên; nhưng giấu ngạc nhiên, anh hỏi những đồ trang sức đó thuộc về ai, và người ta có muốn bán nó không? Ambroise đến hội chợ này với nhiều hàng hóa chở trên một chiếc tàu của Venise, nghe tiếng vị chỉ huy đội quân bảo vệ, liền tiến đến, tươi cười nói: nó là của tôi, tôi không muốn bán nó đâu, nhưng nếu ngài thích thì tôi xin biếu ngài đấy. Sicuran nhận thấy Ambroise mỉm cười trong khi nói với anh nên anh sợ mình đã có một cử chỉ hở cơ. Tuy nhiên anh giữ vẻ tự tin nói với hắn bằng tiếng Italia: Ông lại cười tôi là quân nhân và còn quan tâm đến những đồ nữ trang rẻ tiền đó chứ gì? Không, thưa ông, – Ambroise trả lời – tôi cười về cách mà tôi có được những thứ đó. Có phải là tò mò nếu hỏi ông làm thế nào mà ông chiếm hữu được chúng? – sĩ quan hỏi – Thưa ông – Ambroise trả lời – những đồ nữ trang này và nhiều thứ khác nữa đều do một phụ nữ xinh đẹp ở Gênes. Tên là bà Genèvre, cho tôi trong một đêm tôi ngủ với bà ấy, bà ấy xin tôi giữ lấy vì tình yêu đối với bà ấy nên tôi cũng không cần tống khứ nó đi; xin ông vui lòng nhận nó xem như tí quà biếu, miễn là ông thích. Tôi không thể nhìn chúng mà không cười được, bởi vì chúng nhắc tôi nhớ đến sự ngu ngốc của chồng bà ấy, thằng cha đã dại dột đánh cuộc năm nghìn đuca lấy một nghìn đuca, bảo rằng tôi sẽ không nhận được ái ân của vợ hắn, cái mà bà ta chỉ dành cho một mình hắn. Thế mà tôi đã đạt tới đích, như ông có thể thấy đấy, và tôi đã được cuộc. Thằng cha này lẽ ra phải tự phạt mình về sự cả tin ngu ngốc thì lại đi khiển trách vợ hắn làm cái mà tất cả các phụ nữ khác từng làm, và đã sai giết bà ta, người ta bảo tôi thế, khi hắn có thể trả thù về chuyện không chung thủy của bà ấy.

Sicuran chẳng phải khó khăn gì mà không hiểu ra lý do sự tức giận của chồng, và biết rõ Ambroise là nguyên nhân duy nhất gây tai họa cho mình. Quyết tâm trừng trị tội ác này, anh vờ như thích thú với chuyện kể, và từ lúc đó, anh gắn bó với thương nhân tán tỉnh hắn, khuyên hắn khi nào hội chợ bế mạc thì chở số hàng còn lại về Alexandrie, hứa với hắn là anh sẽ làm cho hắn kiếm được lợi lớn. Để nắm chắc cú đánh, và có thời gian đề phòng tốt, anh đã gạ hắn nên định cư ở thành phố này trong vài năm, anh sẽ cung cấp cho hắn vốn liếng và những giúp đỡ người khác để hắn đi đến quyết dịnh chắc chắn. Ambroise đã quyết định việc đó và càng hài lòng vì làm thế hắn kiếm được những món lời lớn.

Sicuran thiết tha với việc tự minh oan trong đầu óc của chồng, đã tìm mọi cách để lôi kéo anh ta đến Alexandrie. Anh đã thành công nhờ có nhiều lái buôn Gênes mới định cư trong thành phố này làm trung gian. Bernard không nghi ngờ gì về lý do anh được rủ, anh đến cùng với một nhóm tùy tùng ít ỏi. Anh được một người bạn của Sicuran bí mật tiếp đón và nêu ra những lý do vu vơ cốt để giữ anh ở lại nhà mình cho đến lúc người ta có dịp thuận tiện để thi hành kế hoạch.

Để bố trí mọi thứ, Sicuran đã để Ambroise đích thân kể chuyện tằng tịu của hắn trước mặt nhà vua khiến nhà vua cũng rất thích. Khi người chồng đến, anh xin nhà vua bảo hẳn kể lại một lần nữa trước mặt Bernard mà anh đã tìm ra là đang ở trong thành phố. Anh nói thêm với vua: thần sợ rằng Ambroise đã giấu giếm sự thật trong truyện kể của ông ấy và người Gênes đã quá vội vã kết án vợ anh ta. Nhưng nếu bệ hạ chiếu cố ra lệnh cho ông ấy nói đúng chuyện đã xẩy ra như thế nào, thần tin rằng ông ấy phải tuân lệnh; và nếu ông ấy từ chối thì thần đã có cách chắc chắn để buộc ông ấy phải nói ra sự thực.

Ambroise và Bernard trình diện trước mặt nhà vua. Ngài nghiêm nghị, làm như đã biết rõ các tình tiết của biến cố, ra lệnh cho Ambroise kể đầu đuôi câu chuyện, không được xuyên tạc tí gì phải nói rõ bằng cách nào hắn đã kiếm được năm nghìn đuca, ngài dọa sẽ trừng phạt thật nặng nếu hắn nói sai lệch bất kì chi tiết sự thật nào. Ambroise hoảng sợ vì lời đe dọa này, và tin rằng nhà vua biết quá rõ chuyện, nên đành phải kể thật dù trước mặt Bernard và cả triều đình, việc hắn đã tiến hành như thế nào để nắm chắc rằng hắn sẽ khỏi phải trả lại năm nghìn đuca và những đồ nữ trang hắn lấy cắp. Sau khi hắn thú thật tất cả, Sicuran lấy tư cách là thượng thư của Hoàng Thượng, đã lên tiếng hỏi Bernard: Còn nhà ngươi đã làm gì với vợ nhà ngươi sau một chuyện lừa bịp như thế? – Thưa ngài, tôi nổi nóng vì giận dữ và ghen tuông, – anh ta trả lời – tuyệt vọng vì mất tiền và mất danh dự, tôi đã thề lấy mạng cô ấy và sai đầy tớ giết cô ấy. Và nhà ngươi đã làm gì với xác của cô ấy? – Theo báo cáo của tên đầy tớ, xác đã trở thành mồi ngay cho lũ sói.

Thượng thư của nhà vua đã giấu chủ lý do thực sự anh ta cần khẩn vua cho đòi đến hai thương nhân, bèn quay sang phía nhà vua và tâu: Bệ hạ thấy rõ ràng người đàn bà này đã khốn khổ đến mức nào về chồng và về người tình. Tên này đã lấy mất danh dự của chị ta bằng một sự lừa bịp tàn bạo nhất, làm sạt nghiệp chồng chị ta. Còn người kia thì nhẹ dạ, cả tin đã sai giết chị ta và để cho sói ăn thịt chị ta. Thế đấy, cái gọi là một người tình và một người chồng dịu dàng biết bao! Thần chắc chắn rằng nếu họ có trường hợp được gặp lại người phụ nữ bất hạnh này, thì không một ai sẽ nhận chị ta, tình yêu của họ lớn thế đấy! Nhưng bệ hạ là người công minh, hẳn bệ hạ thấy cả hai xứng đáng với cái gì. Thần không cần phải xin bệ hạ trừng phạt kẻ lừa bịp, tội ác tày trời ấy làm sao mà được hưởng khoan hồng; còn đối với kẻ bị lừa, cũng không xứng đáng được tha thứ, nhưng thần mạo muội xin hoàng thượng hạ cố xá tội cho anh ta, thần hứa sẽ để vợ anh ta xuất hiện tại đây.

Nhà vua vốn rất yêu quý thượng thư, hứa chấp thuận mong muốn của anh và bảo anh đưa người vợ đến. Người ta dễ dàng tưởng tượng được Bernard, vốn đinh ninh rằng vợ anh ta không còn nữa, và Ambroise vốn tưởng rằng hắn nuốt trôi được những đồng đuca, đã ngạc nhiên như thế nào. Sicuran liền quỳ thụp xuống chân nhà vua, và bỏ mất cái giọng đàn ông cố hữu: Bẩm hoàng thượng – anh vừa khóc vừa nói – chính thần là vợ của Bernard, bà Genèvre khốn khổ, đã sáu năm trời phải chạy khắp thiên hạ, cải trang thành nam giới, vì bị Ambroise nham hiểm vu oan một cách bỉ ổi, và bị chồng độc ác giao cho lưỡi gươm giết người của tên đầy tớ và cho hàm răng của của thú ăn thịt. Sau những lời đó, bà xé áo, để lộ vú làm thấy rõ một người đàn bà trước mặt nhà vua và cả đình thần. Rồi quay sang Ambroise, bà khiển trách hùng hồn thói gian giảo của hắn. Tên này nhận ra bà, không biết trả lời gì hết; sự xấu hổ và những gì ngài thấy và nghe mà ngài cứ tưởng như trong một giấc mộng. Qua những phản ứng ngạc nhiên đầu tiên, và nhận thấy sự thực ngài khen ngợi phong cách, lòng can đảm, cách cư xử và đức hạnh của bà Genèvre; ngài ban cho bà những quần áo sang trọng và các cô hầu. Vì chiếu cố đến lời cầu xin của bà, ngài đã tha cho Bernard tội ác dã man, do nhẹ dạ cả tin mà có. Con người này cảm kích trước đặc ân của vua ban, vì nể người phụ nữ mà anh sai giết, anh đã ứa nước mắt vì vui mừng và hối hận, nhảy bổ vào chân của người đàn bà và xin lỗi chị ta. Bà Genèvre đức hạnh nói lại cho anh những lỗi lầm của anh một cách dịu dàng, nói với anh rằng bà sẽ quên nó đi, rồi bà đỡ anh ta dậy ôm hôn anh thắm thiết như chồng của bà.

Ambroise bị trừng phạt xứng đáng với tội ác của hắn. Nhà vua ra lệnh cởi hết quần áo hắn ra, bôi mật lên người hắn suốt từ đầu đến chân, rồi trói thật chặt vào một cái cọc ở địa điểm cao nhất của thành phố, đề phòng hắn tự cởi trói ra được, để cho hắn hoàn toàn bị thối rữa hoặc côn trùng cắn xé ăn hết xác. Ngài sai tịch thu của cái của hắn gồm gần hai mươi nghìn đuca, giao cho người đàn bà bị hắn gây hại. Sau đó ngài sai làm một bữa tiệc lớn mời Bernard là chồng bà Genèvre, và bà Genèvre là một trong những phụ nữ được quý trọng nhất mà ngài từng biết. Ngài khen ngợi bà hết lời; và ban cho bà những đồ nữ trang, bát đĩa và các quà tặng khác tính ra trị giá đến hơn hai mươi nghìn đuca. Ngài cho phép hai vợ chồng trở về Gênes, sai chuẩn bị cho họ một chiếc tàu rất đẹp chỉ chạy trong thời gian ngắn là đưa họ về đến nơi. Họ về tới Gênes, mang theo đầy của cải và được đồng bào vui mừng đón chào. Nhất là bà Genèvre mà mọi người tưởng là đã chết rồi, được toàn thành phố hân hoan ăn mừng và được coi như là một phụ nữ đức hạnh gương mẫu.

Ngoài ra, ngay ngày Ambroise bị hành hình, xác hắn bị cắn xé đến tận xương bởi lũ ong vò vẽ và lũ ruồi trâu đầy rẫy ở vùng này. Bộ xương của hắn vẫn bị trói mãi rất lâu vào cọc, đã báo cho những người qua lại biết hết tội ác và tính tàn nhẫn của hắn. Cuộc mạo hiểm của hắn chứng tỏ cho chúng ta biết rằng những kẻ gian giảo và độc ác thì sớm muộn gì cũng bị làm bẽ mặt và bị trừng trị trước mặt nạn nhân của sự lừa bịp của chúng.

Giovanni Boccaccio.